Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Bí ẩn về xác chết bật nắp quan tài tìm đường về nhà

Bí ẩn về xác chết bật nắp quan tài tìm đường về nhà

Mơ thấy người chết điềm lành hay điềm dữ?

Trong cuộc sống, không ít người nằm mơ thấy xác chết. Khi đó, chúng ta thường thắc mắc giấc mơ lạ lùng này ẩn chứa ý nghĩa gì? Là điềm báo tốt hay xấu? Thực tế, có rất nhiều loại giấc mơ liên quan đến người chết và chúng có những ý nghĩa khác nhau.
Theo nghiên cứu tâm linh, quả thật trong giấc mơ nếu xuất hiện một xác chết thì bạn sẽ gặp điềm lành, báo hiệu sự thành công may mắn.
Mơ thấy người chết là điềm báo tốt hay xấu?
Vào thời cổ đại, người ta quan niệm, mơ thấy xác chết là điềm báo liên quan đến tình hình tài chính. Tuy nhiên, để có thể biết chính xác ý nghĩa của giấc mơ thì bạn phải nhớ các chi tiết về xác chết như quần áo, độ tuổi và tình trạng cơ thể... Giới tính của người nằm mơ cũng đóng vai trò quan trọng bởi nó có mối liên hệ với quá trình suy nghĩ. Thêm vào đó, bạn cũng cần chú ý đến số lượng xác chết xuất hiện trong những giấc mơ vì chúng sẽ góp phần thay đổi ý nghĩa giấc mơ của bạn.
Cùng giải mã những giấc mơ liên quan tới người chết xem sao!
- Nếu bạn mơ thấy thi thể của phụ nữ thì có thể bạn sắp có được sự thành công trong công việc nhờ tài giao tiếp của mình. Nếu mơ thấy thi thể của nam giới thì đó là điềm may mắn rằng sự nghiệp của bạn sẽ ngày càng thăng tiến.
- Nếu bạn mơ thấy xác chết là người lạ thì vẫn chưa đến lúc phải lo lắng nhiều. Bởi đó hoàn toàn là giấc mơ lành, nó báo trước cuộc đời bạn sẽ được hạnh phúc, no ấm.
Bạn mơ thấy gì?
- Trong giấc mơ xuất hiện nhiều xác chết thì sao? Nếu mơ thấy có hơn một xác chết, nghĩa là người mà bạn tin tưởng hoặc một số người mà bạn quen sẽ phản bội bạn. Đó thật sự là tin tốt lành, rằng bạn sắp gặt hái được thành công từ một lĩnh vực mà lâu nay bạn không hề để ý đến.

- Mơ thấy cuộc khám nghiệm tử thi trong giấc mơ, chắc hẳn bất cứ ai cũng cảm thấy sợ hãi. Nhưng thật ra đó lại là thông điệp tốt đẹp, rằng bạn hãy chuẩn bị tinh thần đón nhận điều thú vị và mới lạ sắp diễn ra.
- Mơ thấy xác chết như người đang ngủ, thường là điềm báo bạn vừa vượt qua được trở ngại nào đó.
- Mơ thấy xác chết trôi sông là điềm báo bạn sắp phát tài.
- Trong giấc mơ, bạn nhận được ra xác chết là ai, đây chính là lúc mà bạn cần phải chú ý bởi đó là tin không tốt lành, nó báo trước việc chia rẽ trong mối quan hệ nào đó của bạn.
- Nếu ta mơ thấy cha hoặc mẹ vốn đã qua đời, bạn hãy chờ đợi, tin tức quan trọng có thể sẽ đến. Nếu bạn nói chuyện với cha hoặc mẹ quá cố trong mơ, tin tức tốt lành sẽ sớm xuất hiện, có thể là dưới hình thức thừa kế.
- Mơ thấy cha hoặc mẹ chết trong giấc mơ rồi bạn khóc thì đó là điềm báo mọi chuyện bạn đang làm sẽ đạt được ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Nằm mơ thấy xác chết là những thành viên trong gia đình thì nó chứng tỏ, bạn sẽ tự tin, dũng cảm vượt qua mọi áp lực trong cuộc sống.
- Mơ thấy xác chết nằm trong quan tài, thường là điềm báo bạn sắp gặp phải chuyện buồn.
- Đừng lo lắng nếu mơ thấy người chết chính là mình. Đó là giấc mơ báo hiệu sự thăng hoa của tài vận. Nó báo hiệu tài sản của bạn sẽ ngày càng tăng thêm, mọi chuyện trong cuộc sống cũng diễn ra theo chiều hướng tốt đẹp. Nếu bạn mơ thấy mình đang chôn cất người khác thì đó là dấu hiệu chứng tỏ tài sản của bạn sẽ bị thất thoát, hao hụt. Ngược lại, nếu mơ thấy người được chôn cất chính là mình thì bạn sẽ có cơ hội rinh nhiều tài lộc trong cuộc sống.
- Mơ thấy người chết bật dậy từ trong quan tài là điềm báo sắp có người bạn cũ lâu không liên lạc đến thăm.
- Mơ thấy bạn bè chết, bạn sẽ gặp may mắn.
- Mơ thấy nói chuyện với người chết là điềm báo bạn sắp đạt được nguyện vọng nhỏ, sắp có tin vui hoặc những sự việc nhỏ đang tiến hành sẽ thành công.
- Mơ thấy gặp người chết đi vào trong nhà là dấu hiệu may mắn đến gần.
- Mơ thấy mình ôm thi thể người chết là điều cát lợi, có nhiều tài vận.
- Mơ thấy lửa thiêu thi thể là điềm báo bạn sắp được đón nhận nhiều điều tốt lành.
- Mơ thấy mình tham dự lễ truy điệu chứng tỏ, bạn sắp mang thai hoặc người thân sắp sinh em bé.
- Đàn ông mơ thấy người vợ đã chết và thấy mình sắp sẽ kết hôn với phụ nữ giỏi là điềm báo họ sẽ có trợ thủ trong sự nghiệp.
- Quả phụ mơ thấy người chồng quá cố là điềm báo họ sẽ khó đi bước nữa.
- Mơ thấy người đã chết ăn cơm, bạn sẽ sống lâu.
- Nếu mơ thấy người chết khóc thút thít là điềm báo khó khăn đang tới gần.
- Mơ thấy mình ôm khung xương người chết ám chỉ rằng, bạn sắp bị người khác nói xấu hoặc lừa dối.
- Mơ thấy việc chôn cất người khác là dấu hiệu tài sản của bạn bị thất thoát. Nhưng nếu người được chôn cất là chính mình, bạn sẽ gặp nhiều may mắn về tiền bạc.
- Có người mơ thấy mình cùng gia đình đi du lịch bằng tàu tới một hòn đảo nhỏ. Khi đang ăn tối, bạn bỗng nghe thấy tiếng ồn vọng vào từ phía biển và khi nhìn ra từ cửa sổ thì không thấy có gì bất thường. Sau đó, bạn quyết định lên boong tàu quan sát thì đột nhiên thấy mình đang ở dưới nước. Lúc này, bạn nhìn thấy giường của xác chết và nhận ra rằng mình cũng có thể sẽ là một trong số đó nếu không có ai kéo bạn lên khỏi mặt nước. Giấc mơ này hàm nghĩa bạn đang bị rối loạn cảm xúc. Các xác chết trong giấc mơ ám chỉ bạn đang bị mất lòng tin và có trạng thái tâm lý không ổn định.
- Nếu trong giấc mơ, bạn nhìn thấy và nói chuyện được với người chết và hồn ma đó chính là người cha của mình, chứng tỏ, bạn sẽ gặp trở ngại trong giao dịch. Vì vậy, hãy cẩn thận hơn khi ký kết hợp đồng hay cảnh giác hơn với kẻ thù xung quanh mình. Nếu trong giấc mơ người chết là anh em trai hoặc người thân, bạn bè của bạn, chứng tỏ bạn có thể kêu gọi từ thiện, viện trợ trong một thời gian ngắn.

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Giải mã 10 cơn Ác mộng thường gặp

Ác mộng là một điều đáng sợ mà ít nhất một lần trong đời ta được trải nghiệm. Nhiều giải thích cho rằng ác mộng chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên của các vùng tiềm thức trong não bộ, nhưng trong một số trường hợp ác mộng lại xuất phát từ nguyên nhân nào đó và hàm chứa ý nghĩa.
Báo cáo của phòng nghiên cứu tâm linh về Giấc mơ và Ác mộng tại Đại học Montreal (Canada) cho thấy, tuổi vị thành niên thường gặp ác mộng nhiều nhất, trẻ em mẫu giáo và người già ít gặp ác mộng hơn và phụ nữ gặp ác mộng nhiều hơn nam giới.
Tuy đem đến cảm giác khó chịu nhưng các nhà nghiên cứu ngày càng chắc chắn rằng ác mộng là một hình thức điều chỉnh cảm xúc tiềm thức. Nó cho phép bạn xua tan đi những lo lắng, sợ hãi mà bạn đã trải qua nhưng không có cách nào để giải quyết.
Bạn hay gặp ác mộng gì khi ngủ?
Hiểu ý nghĩa những cơn ác mộng có thể giúp bạn nắm được phần nào tình trạng hiện tại của bản thân...
1. Thảm họa tự nhiên
Đã bao giờ bạn từng mơ mình bị cuốn đi trong một cơn bão dữ dội, hay một cơn lốc xoáy quét qua, xé tan căn nhà không. Đây là mô-típ ác mộng chỉ ra, bạn đang lo lắng sợ hãi về những điều sắp xảy ra trước mắt.
Bởi lẽ, thời tiết không thể đoán trước, điều khiển được. Do đó, ác mộng về thời tiết có liên quan tới những căng thẳng mà một người đang gặp phải trong đời sống thực, từ sự bồn chồn lo âu về bài kiểm tra sắp tới hay lo sợ về đổ vỡ trong các mối quan hệ của bản thân.
2. Cái chết
Một trong những mô-típ ác mộng gây rùng mình nhất là bạn nhìn thấy hay nói chuyện với một người đã mất. Đó có thể là người mà bạn quen biết vừa mới qua đời hoặc chỉ là ai đó xuất hiện ngẫu nhiên mà thôi.
Mơ thấy sự chết chóc
Những ác mộng kiểu này là biểu hiện của việc bạn đang bị ám ảnh. Ví như, nếu bạn gặp người bà quá cố của mình, nguyên nhân là do bạn đang đấu tranh tâm lý để đối mặt với sự ra đi đột ngột của người thân.
Không phải lúc nào những giấc mơ chết chóc cũng là điềm báo không lành. Bạn chết trong giấc mơ nhưng bạn không hề chết trong cuộc sống thực. Thay vì nghĩ về những điềm xấu bạn hãy nghĩ rằng cái chết có thể đại diện cho một khởi đầu mới, một phần cũ mất đi nhường chỗ cho những cơ hội mới.
Một giả thiết rộng hơn về những giấc mơ chết chóc là cách tiềm thức phản ứng lại những nỗi sợ hãi về cái chết.
Ác mộng như vậy còn là biểu hiện của sự lo lắng, thường trực về sức khỏe bản thân. Những người mắc những căn bệnh hiểm nghèo hoặc đe dọa đến tính mạng hầu như gặp phải những cơn ác mộng như vậy.
3. Bị chấn thương
Khi bạn không may mơ thấy mình bị thương, đó có thể là do bắt nguồn từ cảm xúc về những yếu kém của bản thân.
Mơ về gãy xương hoặc các vết thương có thể là cách não bộ cảnh báo rằng, bạn đang yếu đuối và dễ bị tổn thương ở một khía cạnh nào đó trong cuộc sống. Hãy tìm ra những yếu điểm đó và tìm cách khắc phục, bạn sẽ sớm thoát khỏi những cơn ác mộng.
Tùy vào từng tình huống trong giấc mơ mà bạn có thể bị chấn thương nặng hay nhẹ. Giấc mơ bị thương có thể liên quan đến một lĩnh vực  nào đó trong cuộc sống mà bạn cảm thấy bất lực.
Trong giấc mơ, nếu bạn có thể tự điều trị vết thương hoặc bảo vệ mình thành công thì đó là một dấu hiệu tích cực. Nó cho thấy rằng bạn có khả năng ứng phó với những tình huống khó khăn hay đáng sợ.
Nếu bạn cảm thấy đau trong giấc mơ thì nó có thể là điềm báo rằng một chấn thương vật lý trong cơ thể bạn đang dần hồi phục hoặc đó là nỗi đau tinh thần của bạn biểu lộ trong giấc mơ.
4. Người thân bỏ rơi
Giấc mơ về người thân hoặc người vô cùng quan trọng rời bỏ là một kiểu ác mộng có liên quan rõ ràng nhất từ thế giới thực. Nó minh chứng rằng bạn đang lo sợ người thân hoặc bạn bè rời xa mình.
Nguyên nhân gây ra cơn ác mộng có thể xuất phát từ cảm giác lo lắng về sự không bền vững của mối quan hệ trong hiện tại hoặc bạn nghĩ mình không đủ quan trọng với họ.
5. Bị mắc kẹt
Ác mộng bị mắc kẹt trong không gian nhỏ hẹp, không thể thoát ra ngoài tương đối phổ biến ở những người lo sợ bị biệt lập.
Giấc mơ này có thể được giải thích khá rõ ràng, nó phản ánh cảm giác bế tắc của bạn trong cuộc sống thực. Bạn cảm thấy bế tắc trong công việc hay cảm thấy bất lực khi phải đưa ra sự lựa chọn. Hoặc nó có thể nói lên một cảm giác mơ hồ hơn rằng bạn đang bướng bỉnh hay không sẵn sàng để thỏa hiệp. Ác mộng cũng có thể là minh chứng về nỗi sợ không thể với tới những kỳ vọng do tác động từ hoàn cảnh.
Nhưng cách giải thích khái quát nhất là nó nói lên phản ứng của tiềm thức với những gì bạn đang trả qua trong cuộc sống.
6. Ngã từ trên cao
Nếu bạn mơ thấy mình bị rơi từ trên cao xuống thì đây chính là biểu hiện về những lo lắng bạn gặp phải một chút stress trong cuộc sống cá nhân, có thể là tiền bạc, sự nghiệp, những mối quan hệ và vô vàn điều khác nữa. Phần lớn ai cũng từng trải qua giấc mơ này.
Còn nếu bị rơi và mất mạng trong giấc mơ, nó liên quan tới việc không thể kiểm soát một khía cạnh hoặc một tình huống nhất định nào đó trong đời sống thực.
Những ác mộng như vậy thường gặp ở những người đã đạt được những thành công nhất định nhưng vẫn cảm thấy bản thân chưa kiểm soát được cuộc sống của chính họ.
7. Bị tấn công
Đây có lẽ là cơn ác mộng phổ biến nhất. Nhiều người đã từng trải tình huống bị người khác, ác thú hay những sinh vật kỳ quái truy sát.
Mơ thấy bị tấn công
Cảm giác bị truy đuổi thường là một dấu hiệu chứng tỏ, bạn thấy mình không đủ khả năng để đương đầu với những tình huống khó khăn trong cuộc sống.
Ngoài ra, phản ứng để thoát khỏi kẻ thù cũng phản ánh tính cách của bạn. Ví dụ, nếu bạn co rúm tìm chỗ lẫn trốn trong giấc mơ, có thể đây cũng chính là cách bạn đối phó với các vấn đề trong thế giới thực.
Biết đâu, để tâm tới hành động trong giấc mơ có thể giúp bạn tìm thấy một mối tương quan giữa những cơn ác mộng và cuộc sống đời thực, từ đó tìm ra cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề đang gặp phải.
8. Giấc mơ khỏa thân
Một giấc mơ về nhịp sống đang diễn ra bình thường, bạn đi làm, tới trường hay đang thuyết trình trước đông người và giật mình tỉnh giấc vì nhận ra mình đang không một mảnh vải che thân!
Trong giấc mơ khoả thân, người ta thường thấy mình không mặc gì, chỉ mặc quần áo lót hoặc mặc quần áo thiếu vải. Người mơ có thể cảm thấy xấu hổ và bối rối hoặc ngược lại, họ cũng có thể cảm thấy tự do, thoải mái.
Ý nghĩa của giấc mơ này là người đó đang rất lúng túng, dễ bị tổn thương, hoặc người đó đã tiết lộ quá nhiều về chuyện đời tư của mình (chẳng hạn như một bí mật,tình yêu hoặc cảm xúc cá nhân). Điều thú vị nhất là giấc mơ loại này lại thường xảy ra với những người sắp cưới.
Tuy nhiên nếu trong chính giấc mơ mà bạn cũng không biết rằng mình đang khỏa thân thì có thể bạn đang chẳng có nỗi lo sợ nào cả và những gì bạn lo lắng không tồn tại trong cuộc sống thực.
9. Thi trượt
Giấc mơ thi trượt thường xảy ra đối với những người không còn là học sinh, sinh viên. Trong giấc mơ, họ đã trượt trong kỳ thi vì họ không thể hoàn thành bài kiểm tra đúng thời gian quy định, hay họ để quên dụng cụ làm bài, hoặc họ đến phòng thi muộn.
Giấc mơ này có nghĩa là người đó cảm thấy đang bị kiểm soát, người đó chưa chuẩn bị sẵn sàng cho một việc gì đó hoặc họ đang mắc một sai lầm trong cuộc sống.
10. Bị lạc
Bạn đã bao giờ từng nằm mơ mình bị lạc tới một nơi xa lạ, không ai quen biết cũng không có ý niệm nào về đường về nhà? Nếu bạn nằm mơ mình bị lạc vào một khu rừng, một thành phố xa lạ hay một khu trung tâm mua sắm và cảm thấy mình đang đi vào lối mòn thì đó có thể là điềm báo rằng bạn đang dậm chân tại chỗ trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Bí ẩn những điềm gở ám ảnh con người

Không chỉ với người Việt mà thậm chí cả người dân ở các nước Châu Âu vẫn tin vào những thứ gọi là điềm xui xẻo như mèo đen, tranh treo trên tường bỗng nhiên rơi xuống, làm rơi muối xuống nền nhà, gương vỡ, quạ bay vào phòng...
Sự “gặp gỡ” Đông - Tây này khiến nhiều người tin vào sự tồn tại của một thế giới tâm linh song song cùng với thế giới của người sống và nhiều khi, những tín hiệu từ thế giới tâm linh ấy đã ba trước cho người sống những việc sẽ xảy ra trong tương lai?
Mèo đen
Trong lịch sử phát triển của phương Tây, mèo đen luôn bị xem là biểu tượng của gian ác. Khi con vật này bỗng dưng xuất hiện bên cạnh một người, đồng nghĩa với việc, điềm xui sắp vận vào người ấy. Thậm chí, có người còn coi mèo đen là tế phẩm, là vật hy sinh trong những nghi lễ hiến tế. Trong thời kỳ trung đại, con vật có sắc lông huyền bí này bị “gán tội” là do những mụ phù thủy độc ác hóa thành.
Bí ẩn mèo đen
Theo quan niệm thời Trung cổ, mèo đen là điềm báo của bất hạnh, yêu thuật và cái chết. Đôi mắt chói sáng, bộ lông u tối và dáng đi uốn lượn khi chúng xuất hiện khiến người thời xưa nghi ngại điềm xấu sắp xảy đến. Tuy nhiên, mặc dù quan niệm mê tín về loài mèo đen vẫn còn tồn tại ở một số nền văn hóa, thời gian có tác dụng cải biến thật kỳ diệu khi ngày nay, mèo đen lại trở thành biểu tượng may mắn, kỳ diệu.
Con số 13 xui xẻo
Số 13 được xem là một con số tượng trưng cho sự xui xẻ. Hàng ngàn năm nay, người phương Tây luôn quan niệm số 13 gắn liền với rủi ro, chết chóc.  Kinh Thánh cũng đề cập đến con số xui xẻo, đáng sợ này. Vào bữa ăn cuối cùng của Chúa Jesus, Judas – kẻ phản đồ của Chúa là vị khách thứ 13 trong bàn tiệc. Vì vậy, con số này dần trở thành nỗi khiếp sợ của người phương Tây. Như thứ Sáu ngày 13 tượng trưng cho một ngày rất xui xẻo.
Ở Anh, khách sạn không có con số 13, rạp hát không có ghế thứ 13... .Số 13 là xui xẻo cũng được nói bởi nó là số ngày trăng tròn trong năm, thực ra điều này chỉ xảy ra 2,5 năm một lần. Ngoài ra, nhiều người còn mê tín cho rằng, nếu có 13 người cùng tụ tập, ắt một người trong số họ sẽ mất mạng vào năm sau đó.
Do bị ảnh hưởng bởi quan niệm nên một số người khi nghe đến số 13 thì trở nên sợ hãi, người ta gọi đó là chứng sợ số 13.
Xòe ô trong phòng
Chiếc ô là vật dụng dùng để che mưa che nắng, vì vậy, xòe ô trong phòng bị coi là hành động coi thường mặt trời. Đương nhiên, những ai dại dột làm điều ấy cũng nên sẵn sàng đón nhận vận xui.

Gương vỡ xui suốt 7 năm
Gương khi đang sử dụng sẽ phản ánh linh hồn của người dùng trong đó. Nếu lỡ tay làm vỡ gương, linh hồn của bạn sẽ gặp họa lớn và phải chịu xui xẻo, khổ đau trong 7 năm trời.
Người La Mã là những người đầu tiên chế tạo ra gương. Họ cũng tin rằng phát minh của họ có khả năng đánh cắp một phần của linh hồn của người sử dụng. Nếu hình ảnh phản chiếu của một người bị bóp méo trong gương thì kết quả là linh hồn của họ sẽ bị mắc kẹt. May mắn thay, những người La Mã tin rằng linh hồn của bạn có thể được giải thoát sau 7 năm. Cho đến thời điểm đó, người làm vỡ gương sẽ phải chịu toàn những điều xui xẻo bởi vì họ không còn linh hồn hoàn thiện, khỏe mạnh để chống lại cái ác. Nhưng tại sao lại là 7 năm mà không phải là con số khác? Lại có thêm một câu chuyện nữa về việc này. Trong thời cổ đại, nếu bạn lỡ tay làm vỡ gương của một ai đó, bạn sẽ phải làm việc cho người đó như một người hầu trong 7 năm. Bởi vì vào thời gian đó gương là một vật dụng xa xỉ và hiếm, nên việc làm vỡ gương cũng có nghĩa là phải chi tiêu thêm một khoản tiền lớn để thay thế nó.
Nếu một người muốn xua đuổi vận hạn sớm hơn một chút thì có một vài phương pháp để giải thoát linh hồn của bạn như mài tất cả các mảnh gương vỡ thành bụi mịn rồi chôn nó dưới gốc cây trong ngày trăng tròn. Nếu không họ vẫn còn cách dễ dàng hơn, đó là chờ đợi 7 năm để có được linh hồn mới.
Theo một số tài liệu, để giải thoát linh hồn mình sớm hơn thời gian đã định, bạn có thể mài những mảnh vỡ của gương thành bụi và đem chôn chúng dưới gốc cây vào ngày trăng tròn.
Quét nhà, quét cả vào chân
Người phương Tây quan niệm, phụ nữ không biết quét nhà, sẽ không thể là người vợ đảm và khó lấy được chồng hay về mặt tình yêu không bền vững. Sơ ý chạm chổi vào chân mình lúc đang quét nhà hoặc để người khác vô tình quét phải chân mình sẽ cho thấy, bạn không tập trung, không chú ý tới người khác. Đó là dấu hiệu “cảnh báo”, bạn không phải là người phù hợp để kết hôn.
Để mũ trên giường
Lại có quan niệm cho rằng, để mũ trên giường, chẳng khác gì để vòng hoa trên cỗ quan tài. Đó là dấu hiệu đáng lo cho tính mệnh của bạn. Bởi trên đầu mỗi người đều có tà linh, nên khi để mũ trên giường, tà linh ấy sẽ có nơi trú ngụ mới là giường ngủ. Đêm xuống, nó sẽ xuất hiện và lấy đi sinh mệnh của bạn.
Quạ bay vào nhà tượng trưng thần chết gõ cửa

Với nhiều người, quạ bay vào phòng sẽ đem theo “chỉ ý” của thần thánh. Nói cách khác, sự xuất hiện của con vật đen đúa này sẽ báo hiệu những việc rủi ro sắp đến với bạn, cũng là điềm báo của chết chóc.
Làm rơi muối
Người phương Tây tin rằng, ai làm rơi tách hoặc lọ đựng muối, sẽ gặp chuyện đen đủi. Bao nhiêu hạt muối bị rơi đổ, “khổ chủ” sẽ phải rơi bấy nhiêu lệ. Trong xã hội cổ đại, muối là thứ gia vị vô cùng quý. Vì vậy, làm rơi vãi muối cũng đồng nghĩa với việc, một phần sinh mệnh của bạn cũng sẽ rụng rơi.
Dẫm lên vết nứt
Ở các nước phương Tây, người ta có những quan niệm khá kỳ lạ về chuyện dẫm chân lên vết nứt trên đường, như: “Dẫm chân lên vết nứt, lưng của mẹ sẽ bị gãy”, hay “Dẫm chân lên vết nứt, sẽ bị gấu đuổi bắt”…
Tranh treo trên tường bị rơi
Với nhiều người, bức tranh đang treo trên tường bỗng dưng bị rơi, đồng nghĩa với việc, sẽ có người thân của bạn sắp lìa xa cõi đời.
Treo móng ngựa
Treo móng ngựa theo chiều hai đầu HƯỚNG lên trên, bạn sẽ gặp may mắn, ngược lại, nếu treo hai đầu chúc xuống dưới, sẽ là điềm báo của xui xẻo.
Đi phía dưới thang
Người phương Tây quan niệm, đi phía dưới một chiếc thang là điều không tốt lành. Bởi hình dáng của thang khá giống với chiếc giá treo cổ xử tử phạm nhân thời trung cổ.
Tương tự, trong cuộc sống có hàng loạt những hiện tượng được coi là điềm báo như chim sa, cá nhảy, vỡ gương, chim khách, cú mèo, chim lợn, rắn quấn cột nhà,... khiến nhiều người khi gặp phải đều không tránh khỏi tâm lý lo sợ.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Rùng mình chuyện rắn thần báo oán ở Thái Nguyên

Sự tồn tại của rắn thần trong ngôi đền Long Khánh Từ thuộc xã Kỳ Phú, Đại Từ, Thái Nguyên với những lời đồn ma quái, chết chóc nếu có người dám cả gan mạo phạm đến thánh thần làm người nghe rùng mình.
Cầu mưa với thần rắn
Câu chuyện của ngôi đền Long Khánh Từ - và nhiều người dân trong vùng gặp được hai thần rắn xuất hiện trong ngôi đền càng trở nên kỳ bí hơn khi vào cuối những năm 1968, tại khu vực xã Kỳ Phú xuất hiện một trận hạn hán kéo dài khiến cho ruộng đồng khô hạn, nứt nẻ, không thể trồng cấy được bất cứ cây gì, người dân trong vùng cũng không có nước mà uống, ai nấy đều sợ vận hạn sẽ xảy ra.
Cận cảnh trong ngôi đền thờ thần rắn
Bí quá, người dân chẳng biết than ai đành tụ họp nhau lại mua lễ đến đền Long Khánh Từ cầu các thần linh ban mưa thuận gió hòa để người dân được trồng cấy. Sau khi khấn vái thần rắn xong, người dân xã Kỳ Phú mới ra trước cửa đền cùng té nước, tạo mưa giả, sau đó vào ngôi đền nhỏ gần đó thắp hương cầu khấn.
Ngay đêm hôm đó, trời nổi gió và mưa to kéo đến. Kể từ đó, người dân thường xuyên mang lễ vật đến đền Long Khánh Từ thắp hương. Sau này, đền được mọi người tu sửa khang trang. Cứ thành tục lệ khi nào gặp hạn hán, người dân cả vùng lại kéo nhau vào đây té nước cầu mưa.
Những câu chuyện lạ ngày xưa
Không dừng lại ở đó, từ sau khi rắn thần lần đầu tiên vào năm 1968, đã có hàng loạt những hiện tượng tâm linh lạ xảy ra xung quanh ngôi đền khiến cho mọi người khiếp sợ.
Câu chuyện thứ 1
Vào năm 1970, con ông Mã Điền ở xóm Chuối đi chăn trâu đến gần ngôi đền không có cửa, thấy bên trong có hoa quả người dân đem đến thờ cúng nên đã cả gan vào trộm. Đến tối khi về nhà, đứa bé này bỗng dưng đau bụng dữ dội, tới đêm thì qua đời mà không ai rõ lý do.
Chỉ đến khi sự việc xảy ra gần được 1 tháng, những đứa trẻ trong vùng mới kể cho mọi người nghe về sự việc thì người nhà ông Mã Điền mới ngã ngửa, đem hương hoa lên đền Long Khánh Từ để cầu khấn, mong thần linh phù hộ cho linh hồn đứa con tội lỗi sớm được siêu thoát và thần không giáng tội xuống cả gia đình.
Câu chuyện thứ 2
Ở ngôi đền cũ có cây đa rất to, đến khi phải ngả đi thì cây có tuổi thọ là 52 năm, ngoài ra còn có hai cây lựu cao khoảng 18 mét. Năm đó có một người đàn ông tên Thức làm bên thủy lợi, không hiểu vì lý do gì đã chặt cho hai cây lựu đổ về phía đền.
Lạ thay, khi cây lựu ngã đổ thì một cơn gió thổi mạnh đẩy cây rạp ra phía bờ suối. Người đàn ông đó sau khi về nhà mấy ngày thì tự tay treo cổ hai người con trai, bản thân ông ta ngay tối hôm đó cũng uống thốc sâu tự tử. Bao năm qua, người dân nơi đây vẫn còn nhớ câu chuyện này.
Đền Long Khánh Từ, thuộc xã Kỳ Phú, huyện Đại Từ, Thái Nguyên
Câu chuyện thứ 3
Vào một đêm năm 1998, người đàn ông trong làng do bí tiền quá đã đến ngôi đền này lấy trộm bát hương chính đem bán. Mấy hôm sau, người đàn ông đó bỗng nhiên lăn đùng ra ốm. Gia đình mang đi khắp các bệnh viện lớn nhỏ để chữa trị nhưng không tìm ra bệnh. Trong khi đó, người đàn ông này lúc tỉnh lúc mê, nhiều khi còn nói năng nhảm nhí, xưng mình là thánh thần giáng trần.
Hôm sau, gia đình họ mang bát hương đến ngôi đền đặt lại đúng vị trí cũ rồi mượn thầy về cúng suốt ba ngày ba đêm ở ngôi đền thì anh ta mới hết bệnh.
Câu chuyện thứ 4
Vào năm 1997, khi chính quyền trong vùng bắt đầu khởi công xây dựng hồ chứa nước Vai Miếu, đã có một đám công nhân đến đây dựng lán ở suốt một thời gian dài để xây dựng công trình. Theo những câu chuyện được truyền miệng, khi đám công nhân tiến hành dỡ bở đền Long Khánh Từ thì đôi rắn thần bất ngờ bò ra. Có một số công nhân thấy thế liền vác cuốc xẻng đuổi bắt nhưng không được.
Đến tối, khi đám công nhân này đã tắm rửa và bắt đầu nghỉ ngơi, kết thúc một ngày làm việc vất vả thì bất ngờ ngôi lán bị sập khiến một công nhân tử vong. Điều làm mọi người kinh hãi là nạn nhân chính là người đầu tiên phát hiện ra đôi rắn và cố đuổi bắt nhưng không được. Từ đó, đám công nhân sợ quá phải nghỉ làm mấy ngày liền. Có người đã phát ốm, không dám làm ở công trình hồ Vai Miếu nữa mà xin nghỉ việc.
Và những câu chuyện sau này
Nỗi sợ hãi về việc bị rắn thần trừng phạt vì phạm phải đất thiêng tiếp tục được nối dài khi vào năm 2002, một thanh niên tên Thắng ở xóm Gió, xã Kỳ Phú đến hồ Vai Miếu tắm lúc trưa nhưng rồi cũng không thấy về. Người thân và bà con hàng xóm cũng đi tìm xác nạn nhân nhưng không thấy. Sau 3 ngày, dân làng thấy xác nạn nhân nổi lên ở vị trí chính giữa chân đập hồ.
Tiếp đến, năm 2005, một người đàn bà tên Tình (xóm Dứa, xã Kỳ Phú) lội qua suối để sang bờ bên kia đi bộ về nhà, đi đến giữa suối thì bất ngờ nước từ trong nguồn ào ra cuốn trôi bà ra hồ. Bà con nhân dân trong xóm phải thắp đóm đi tìm khắp các ghềnh đá ven hồ. Mọi nỗ lực tìm kiếm tưởng chừng như vô vọng thì may sao một thanh niên trong xóm lặn xuống, đã thấy xác bà mắc ở một gốc cây khô dưới lòng hồ – nơi ấy chính là nền móng của ngôi đền Long Khánh Từ trước đây.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu phong thủy ,các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra hay có những lý giải về các hiện tượng này. Nhưng với người dân trong vùng, họ vẫn luôn tin tưởng có một năng lượng gì đó ở ngôi đền, nhất là với rắn thần.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Thực hư chuyện Vong nhập và lý giải hiện tượng nhập vong

Trong cuộc sống, người ta vẫn thường nói đến những câu chuyện ”vong nhập”, lấy người sống để áp vong người chết, cho dương thế “giao lưu” với âm phủ? Đó có thực sự là câu chuyện có thật hay không thì vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp một cách thỏa đáng bằng khoa học.
Vong nhập vào trẻ con
Không phải chờ đến khi các trung tâm tìm mộ với chiêu “áp vong” người chết mọc lên như nấm thì người ta mới nói nhiều về việc vong nhập vào người mà những câu chuyện ấy đã tồn tại trong dân gian từ lâu nay. Chuyện những đứa trẻ “bị ma làm”, “bị hồn bắt mất vía” đã không còn xa lạ.

Ông Trần Văn Chung ở Hải Xuân, Hải Hậu, Nam Định nhiều năm trước được xã ủy quyền cho việc thu tiền điện. Ông Chung sinh hai đứa con đầu đều không may qua đời khi vừa tuổi lên 3. Một lần ông đi thu tiền điện của một hộ gia đình, thấy con chủ nhà dễ thương, ông có hỏi han mấy câu. Khi ông vừa rời khỏi cửa, đứa trẻ bắt đầu khóc cho đến tận nửa đêm vẫn không nín. Gia đình tá hỏa, ai cũng bảo do ông Chung có qua đây, đứa trẻ con ông Chung đã là ma nhập vào người ông Chung, khi gặp đứa trẻ con khác thì thích trêu đùa. Và nếu khi đã bị ma nhập thì chỉ có ông Chung mới làm cho đứa bé nín. Quả tình, chả biết thế nào, khi ông Chung đến và nói: “Hai đứa Dần, Mão lên lưng bố cõng về, đừng ở đây trêu cháu nữa”. Rồi ông làm động tác cõng đứa trẻ trên lưng mà đi về nhà. Lạ thay, khi ông Chung đi về thì đứa trẻ kia cũng nín, ngoan ngoãn ăn uống và đi ngủ. Chính người vợ ông Chung trong một lần lên thăm cháu ruột khi đầy tháng cũng đã khiến đứa trẻ đó quấy khóc và vợ chồng ông ở nhà đã phải đốt hương gọi con về.
Trẻ em – theo quan niệm của nhiều người thường là nhẹ vía nên rất dễ bị vong nhập. Con gái chị Nguyễn Minh Thu ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vốn là một bé gái khỏe mạnh năm nay đã lên 5 tuổi. Trong một lần về quê, cháu đi chơi và gặp một bụi hoa mẫu đơn liền hái về nhà chơi. Sau đó thì mặt mũi cháu bỗng tái xanh và đến khoảng 9h tối bắt đầu khóc lóc, không chịu đi học. Ngay hôm sau, sự việc vẫn tiếp diễn. Sự việc xảy ra trong vòng 1 tuần và chị buộc phải cho con nghỉ học ở nhà, nhưng ở nhà bé không ăn không uống và thỉnh thoảng ngồi lảm nhảm nói chuyện một mình. Chính bà ngoại cháu đã chứng kiến cháu ngồi nói chuyện một mình liền hỏi nói chuyện với ai thì bé nói là nói với bạn, nhưng đó là người mà bà không nhìn thấy. Chị Thu hỏi thì nhận được câu trả lời “bạn nhưng mẹ đến thì bạn ấy đi mất”, chị hỏi nói chuyện gì thì bé nói “bạn rủ con đi vào vòng xoáy”. Lúc này mọi người trong nhà mới nghĩ ra chỗ bụi mẫu đơn mà cháu hái hoa có một cháu bé trạc tuổi cô bé này bị tai nạn xe máy qua đời. Chị Thu rất hốt hoảng nhờ thầy bắt vong. Thầy cho con chị đeo bùa vào người, 1 ngày sau, cháu mới hồng hào trở lại, ăn uống bình thường và tiếp tục đi học như chưa có chuyện gì xảy ra.
Vong nhập cả vào người lớn
Không chỉ những em bé nhẹ vía mới bị cho là vong nhập mà ngay kể cả những cô cậu học trò 17,18 tuổi cũng bị vong nhập. Vào khoảng tháng 10-2011, tại trường Nguyễn Văn Trỗi, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh người ta đã đồn ầm ĩ về chuyện “trường học có ma” khi thấy nữ sinh tự nhiên ngất xỉu, sau khi tỉnh dậy có hành động kỳ lạ khác bình thường. Theo lời kể của các học sinh, thì 2 nữ sinh bị cho là vong nhập đã nói ở phía dưới dãy nhà của lớp 12 có nhiều hài cốt chưa được bốc đi, họ đói rách, lạnh lẽo lắm. Rồi xin nhà trường lập bàn thờ, đốt hương vàng, áo vải cho. Các bạn của 2 nữ sinh này đã rất nhiều lần thấy 2 nữ sinh ngất đi, tỉnh lại tự xưng mình là người rất xa lạ, khi nói là đàn ông 51 tuổi, khi thì xưng là trẻ con. Gia đình các nữ sinh cũng cho con đi khám tại các bệnh viện song kết quả là không bệnh tật gì, sức khỏe tốt rồi cho thuốc an thần về uống. Chính thầy giáo Lê Thái Phi – Phó Hiệu trưởng nhà trường cũng cho rằng có hiện tượng như vậy và rất khác thường nhưng để giải thích thì thật khó nói cho thỏa đáng.
Trước đó vào khoảng tháng 8-2011, cậu học trò Đỗ Văn Bình ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức vốn ngoan ngoãn, chăm học, vừa thi hai trường ĐH Công nghiệp và CĐ Y Hà Nội đang chờ kết quả bỗng trở nên thay đổi lạ thường. Bình không chịu ăn uống gì chỉ liên tục “nốc rượu”, hai mắt gằn lên những tia lửa đỏ rực, luôn miệng quát tháo những người trong nhà. Người làng rì rầm kháo nhau, ấy là nó bị “vong” nhập. Nhưng khác với hai nữ sinh ở Hà Tĩnh, Bình không tự nhiên bị nhập mà do “thầy” tác động để tìm mộ liệt sỹ. Nhưng việc tìm mộ không diễn ra như mong muốn của gia đình mà Bình thì mỗi lần “vong nhập” đều rất mệt mỏi vì quay cuồng đầu óc.
Anh thanh niên Nguyễn Hữu Đ ở Thanh Miện, Hải Dương trong lần tìm đến Liên hiệp Khoa học ứng dụng lại cho rằng mình bị “ma chửa” nhập vào. Mặt mũi đỏ gay đỏ gắt, nói giọng con gái ẻo lả, cứ lúc khóc lúc cười khanh khách, cái bụng tự nhiên trương phình lên như người chửa 8 tháng (?!). Mỗi lần ma nhập, anh thanh niên này phải cởi ngay quần áo kẻo bụng phình lên đứt hết cúc và đau đớn không chịu nổi. Nhiều lần các nhà khoa học đã dùng máy móc hiện đại để chụp chiếu, siêu âm phần bụng đột nhiên trương phình của anh ta, song vẫn không phát hiện ra nguyên nhân do đâu. Khi “ma nhập”, các nhà khoa học và gia đình đưa anh ta đi viện, song cứ đến viện là bụng liền xẹp đi, cơ thể trở về trạng thái bình thường. Các bác sĩ cũng khám và siêu âm các kiểu, song không phát hiện anh Đ có bệnh gì, thần kinh cũng hoàn toàn bình thường. Khi các nhà khoa học sử dụng phương pháp dân gian là dùng roi dâu vụt vào cơ thể anh ta, thì tự nhiên “con ma” thoát ra ngoài, và cái bụng anh dần dần xẹp xuống (?!).
Vong nhập hay bệnh tâm thần?
Theo bác sĩ Trần Văn Cường, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương thì vong nhập, lên đồng… là một trạng thái tâm lý đặc biệt, một trạng thái bệnh lý xuất phát từ vô thức một nhóm bệnh nằm trong bảng phân loại về các loại bệnh tâm thần đã được tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp vào mục F44.3. Một người bị vong nhập tức là người đó không bình thường, có vấn đề về thần kinh hoặc tâm thần (nhẹ hoặc nặng).
Nguồn gốc của hiện tượng vong nhập là sự tương tác của ám thị lạ và tự ám thị. Khi một người đi áp vong, hoặc lên đồng thường ngồi tập trung như ngồi thiền để đầu óc trống rỗng. Trạng thái này đưa bộ não trở về vô thức. Trong trạng thái khởi đầu vô thức, người đó vẫn nhận biết xung quanh, tiếp nhận các ám thị lạ như về liệt sĩ, về đau thương, về chiến trận qua thầy pháp hoặc nhà ngoại cảm. Khi bộ não chìm vào vô thức các tác động từ bên ngoài sẽ là ám thị lạ tạo ra sự tự ám thị. Trong trạng thái tự ám thị nhiều khi rất mạnh mẽ đặc biệt đối với những người có thế năng bệnh tâm thần cao, bộ não sẽ nhào nặn, xây dựng thành các kịch bản đặc biệt.
Cái đáng sợ là hiện tượng vong nhập thường xảy ra ở những người yếu bóng vía hoặc vừa trải qua một cơn biến động tâm lý, ví dụ vừa ốm dậy, hoặc thường có tình trạng bất bình thường, tức là đã có dấu hiệu của bệnh tâm thần. Thế năng của bệnh đã đủ lớn nhưng do kiềm chế của bộ não bệnh chưa phát ra. Tuy nhiên nếu dự các buổi áp vong và bị vong nhập thì cuộc áp vong giống như giọt nước cuối cùng làm cho thế năng tâm thần được giải phóng và gây bệnh. Cùng câu hỏi này theo Thượng tọa Thích Quảng Tùng – Trụ trì chùa Hàng, Thủy Nguyên, Hải Phòng thì điều đó cũng có thể xảy ra. Bản thân Thượng tọa mỗi chiều chủ nhật hàng tuần cũng có tiếp xúc với một số người thì thấy rằng đúng là có những người có cách xử sự hơi khác người bình thường, la hét, nói lăng lảm nhảm nhưng không phải ai trong số họ cũng bị ma nhập. Trong số hàng trăm người tìm đến Chùa Hàng vì cho rằng Thượng tọa có thể bắt ma thì họa hoằn mới có người có thể bị vong nhập, còn như nhiều nghiên cứu khoa học đã cho thấy, người trần dù có tu hành đi chăng nữa mà nhìn thấy vong theo người khác cũng là người không bình thường, có dấu hiệu thần kinh.
Trước tình trạng nhiều người quá tin vào chuyện vong, linh hồn nhập vào người đang xôn xao trong dư luận, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, ban đầu họ cho rằng đây là hiện tượng của bệnh thần kinh những áp lực về cuộc sống, tiềm thức khiến cho họ cần phải dùng thế lực siêu nhiên để giảm đi những áp lực ấy hay còn gọi là sự ''rối loạn đa nhân cách''. Tuy nhiên hiện tượng “ma nhập” vẫn còn là đề tài chưa có hồi kết, vẫn cần nhiều lời giải đáp.

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Kỳ lạ phong tục "thờ hồn sống", "treo quan tài lơ lửng"

Tục “thờ hồn sống” là một trong những phong tục của người Pa Kô được gìn giữ từ ngàn đời xưa đến nay. Người Pa Kô quan niệm rằng, thần Bổn mạng (Yang cơt) chính là vị thần tối cao sinh ra con người và trong mỗi người đều có linh hồn.
Pa Kô - tiếng Việt có nghĩa là "người bên núi", nhưng trong truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc mà người Pa Kô lưu truyền cho con cháu từ đời này sang đời khác được ông Hồ Văn Hạnh - Bí thư Đảng ủy xã Hồng Trung kể lại, tổ tiên người Pa Kô lại không hề ở "bên núi" chút nào. Ông kể: "Ngày xưa, lâu lắm rồi, người Pa Kô làm ăn sinh sống ở một khu vực gần với biển, với ruộng đồng. Nơi đồng bào sinh sống còn có một đồng bào anh em khác nữa. Qua năm tháng, người Pa Kô và người anh em láng giềng vẫn sinh sống hòa thuận, rồi thì xuất hiện hai người nhà giàu - chủ thể của đất họp bàn để nhường phần đất đang sinh sống lại cho một trong hai người làm kinh đô - lập quốc. Một cuộc thi thố đã được thống nhất giữa hai "người láng giềng" - xây một tòa thành trong vòng một đêm, ai thua thì phải nhường lại "kinh đô" của mình cho "đối phương" đi tìm một vùng đất mới.
Tục “thờ hồn sống” của người Pako
Cũng như bao tộc người của dân tộc Việt Nam, người Pa Kô cũng có những sinh hoạt văn hóa phong tục riêng. Trong đó những nghi lễ về tang ma là một nét độc đáo trong truyền thống phong tục của tộc người này.
Tục “thờ hồn sống” là một trong những phong tục của người Pa Kô được gìn giữ từ ngàn đời xưa đến nay. Người Pa Kô quan niệm rằng, thần Bổn mạng (Yang cơt) chính là vị thần tối cao sinh ra con người và trong mỗi người đều có linh hồn.
Tục “thờ hồn sống” được bắt đầu từ khi đứa trẻ chào đời được một tháng tuổi. Lúc đó, ba mẹ làm lễ cúng đặt tên cho đứa trẻ để báo với các vị thần, tổ tiên về sự hiện diện của đứa trẻ trên thế gian. Thầy cúng Côn Nam, thôn Pa Ling (A Vao, Đakrông), cho biết: “Có nhiều người phải "thờ hồn sống" ngay từ nhỏ, bởi vì hay ốm đau, mong muốn có được thần Bổn mạng che chở, cho sức khỏe tốt. Khi lớn lên, tùy theo từng hoàn cảnh, điều kiện và ước muốn của từng người mà lựa chọn hình thức thờ phụng "hồn sống”.
Trong phong tục "thờ hồn sống" của người Pa Kô, có một điều đặc biệt đó là người phụ nữ được thờ thần Bổn mạng qua nhiều giai đoạn hơn so với nam giới, từ hiện vật là cái áo, khăn tay…đến cái bát lên thành Ruông- Rốp, nâng tiếp thành Ruông- Cưa, Ruông- Pin, Hing và cao nhất là Luông (một vị trí thờ đặt ở nơi cao nhất, trang trọng nhất trong nhà). Đối với nam giới, từ cái bát bỏ qua ba giai đoạn của phụ nữ để lên thẳng Hing đến Luông. Tất nhiên, để đi đến tận cùng giai đoạn cao nhất trong "thờ hồn sống" cần phải có người thầy cúng tài cao, đức trọng mới đủ tư cách thu phục Bổn mạng, đưa "hồn sống" lên vị trí cao nhất.
Trong đời sống, người Pa Kô luôn đề cao, tôn trọng vai trò người phụ nữ. Vì thế, khi “thuyền theo lái, gái theo chồng” thì bố mẹ đẻ vẫn phải có trách nhiệm "thờ hồn sống" cho con gái mình. Khi bố mẹ đẻ qua đời thì trách nhiệm này chuyển sang cho chú, anh trai, em trai thờ phụng. Người Pa Kô luôn gìn giữ và lưu truyền tục "thờ hồn sống" để mọi người đi đâu, làm gì cũng đều nhớ về nguồn cội, có trách nhiệm yêu thương, tình yêu , đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống. Khi người phụ nữ về nhà chồng được 2- 3 năm và có ước nguyện chuyển "hồn sống" mình sang thờ tự ở nhà chồng thì phải làm lễ đón "hồn sống" từ nhà ba mẹ đẻ sang nhà chồng. Để hoàn thành ước nguyện, bên cạnh sự đồng ý hai gia đình, đòi hỏi cả hai nhà phải có kinh tế khá giả, bởi việc tổ chức lễ cúng đưa- đón "hồn sống" diễn ra với nhiều nghi thức cầu kỳ và lễ vật tốt kém.
Nghi lễ này diễn ra trong thời gian một ngày, một đêm, gồm có 3 phần. Phần thứ nhất làm lễ tiếp thầy, sau đó cả thầy và chủ nhà thực hiện nghi thức như nhau là trình tổ tiên, gia tiên. Tiếp đó, thầy cúng trình các thần che chở, niệm các bài tụng trong phép cúng. Trong quá trình cúng, thầy cúng thực hiện 28 bài tụng, kết hợp nhảy, múa thể hiện các động tác liên quan đến đời sống sinh hoạt và lao động của người Pa Kô. Phần thứ 2 là rước hồn vào nhà, phần 3 là dựng Luông. Cứ theo từng phần, đồ lễ vật nhiều hơn, to hơn và đa dạng hơn, cách cúng cũng cầu kỳ phức tạp hơn. Theo quan niệm người Pa Kô, khi đưa "hồn sống" lên vị trí cao nhất trong "thờ hồn sống" của mình là họ đã hoàn thành tâm nguyện, từ đó sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống, nhưng quan trọng hơn cả là họ sẽ luôn được các thành viên trong gia đình, họ tộc nhớ đến và bản thân họ cũng luôn nhớ về nguồn gốc của mình.
Một phong tục kì lạ khác của người Pa Kô là tục tang treo. Người Pa kô bao đời nay vẫn còn lưu giữ tục TANG treo vô cùng kỳ lạ. Đến một chu kỳ nhất định, họ khai quật mả người chết lên, sau đó bỏ vào những cái A Pổ (cái tiếu) rồi đặt nằm rải rác trên mặt đất suốt năm tháng. Nhưng kỳ lạ, sau khi an táng treo, người dân trong làng sẽ bị cấm đến nghĩa địa để thăm viếng mộ người nhà. Nếu để người làng bắt được, họ sẽ bị bắt vạ. Xung quanh tục táng treo này, tồn tại rất nhiều câu chuyện kỳ bí đến rợn người.
Người chết được chôn xuống đất sau 3-5 năm, thậm chí đến 10 năm thì được cất lên làm lễ cải táng rồi đưa vào trong những cái Piêng (lăng mộ). Điều đặc biệt là trước đó, những chiếc quan tài sẽ được treo lơ lửng giữa không gian.
Mỗi Piêng có ít nhất 3 tiểu, bởi theo tập tục, mỗi lần cải táng phải từ 3 người trong họ trở lên. Được biết, để lễ cải táng diễn ra một cách thuận lợi, gia đình nhà có người đã khuất cử người con trai cả băng rừng vượt núi đi gọi họ hàng, anh chị em thân thích sống du canh du cư dọc dãy Trường Sơn về dự. Dù xa xôi đi mấy chăng nữa, người thân vẫn phải tề tựu đầy đủ, không thiếu sót một người. Lễ nghi này thể hiện lòng biết ơn, kính trọng của con cháu đối với đấng sinh thành.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Bí ẩn hành vi ngáp và sự lây truyền tình yêu

Bí ẩn hành vi ngáp và sự lây truyền tình yêu

Ly kỳ chuyện làng “sinh đôi, tử đôi” và lời đồn cây mít lạ

Từ xưa cho đến nay, vấn đề sinh tử là một lẽ tự nhiên ở đời. Song, câu chuyện về “sinh đôi, tử đôi” thì có lẽ chỉ có ở thôn Đinh Xuyên, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Tại nơi làng quê có lịch sử trên 2000 năm nằm ven dòng sông Đáy hiền hòa thơ mộng này, các cụ cao niên chiêm nghiệm, đúc kết và kể lại câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" như một nét riêng biệt, khác lạ vốn đang hiện hữu trong đời sống của làng quê mình. Câu chuyện đó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn liền với sự tích hai vị Thành Hoàng làng được nhân dân tín vọng, tôn thờ.

Ly kỳ chuyện "sinh đôi, tử đôi" và cây mít lạ ở đình

Câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" được các cụ cao niên trong thôn Đinh Xuyên kể lại, gắn liền với sự tích hai anh em sinh đôi có tên là Phạm Thông và Phạm Nhu được nhân dân suy tôn làm Thành Hoàng làng.

Theo Ngọc phả và các đạo sắc phong còn lưu giữ tại đình thôn Đinh Xuyên, hai ngài Phạm Thông và Phạm Nhu là anh em sinh đôi, con của cụ Trần Thị Lan (quê thôn Đinh Xuyên) lấy chồng về Hải Dương. Vào ngày 12.1 năm Bính Thân, cụ Trần Thị lan sinh đôi được hai người con trai, đặt tên là Phạm Thông và Phạm Nhu.

Khi các ông đã lớn, do ở Hải Dương có nhiều biến cố nên hai ông được đưa về quê ngoại (thôn Đinh Xuyên) ở với cậu ruột là tướng công Trần Kiên. Được cậu dạy dỗ, văn võ thao lược, cùng nhau chiêu mộ quân sỹ và triệu tập được hàng nghìn trai tráng, hai ông lập ra hai trận địa ở đầu và cuối thôn Đinh Xuyên (ở vị trí quán Ngược và quán Xuôi ngày nay) tập luyện võ nghệ.
Cổng tam quan chùa Đinh Xuyên.
Cổng tam quan chùa Đinh Xuyên.

Vào năm 40, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, hai ông mang theo số quân chiêu mộ được đi theo phù hai Bà đánh đuổi quân Đông Hán, giành thắng lợi và bà Trưng Trắc xưng vương. Ba năm sau (năm 43), nhà Đông Hán sai Mã Viện mang 50 vạn quân sang đánh nước ta.

Để ngăn bước tiến quân của giặc, giữ gìn và bảo vệ non sông, người anh chiến đấu hết mình với một lòng trung quân ái quốc nhưng do chênh lệch về lực lượng nên quân ta thua trận. Tại cứ điểm, địa bàn xung yếu Tây Hồ (Hồ Tây - Hà Nội ngày nay), người anh hy sinh.

Sau đó, người em tuẫn tiết theo anh, gieo mình trên dòng sông Hát Giang (sông Đáy - Hà Nội ngày nay) để thể hiện chí khí của mình. Cảm động trước khí tiết và ân đức to lớn của hai ngài, dân làng thôn Đinh Xuyên phong hai ngài là Thành Hoàng làng và lập hai quán để thờ phụng. Quán Ngược thờ người em là Phạm Nhu, quán Xuôi thờ người anh là Phạm Thông.

Cũng câu chuyện sinh đôi - tử đôi, trong thôn còn kể câu chuyện về cây mít lạ, bên trong có hai lõi.

Ông Lê Nguyên Bá, một sỹ quan quân đội hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, nay đã về hưu kể lại: "Cách đây trên 20 năm, tôi được nghe cụ Nguyễn Hà Bạn là một cao niên trong làng kể rằng: Đình làng Đinh Xuyên ngày nay mới được dựng lại cách đây trên 300 năm.

Trước, đình nằm ở ven dòng sông Đáy, do mùa mưa nước tràn vào trong đình nên các cụ mới bàn nhau chuyển đình vào giữa làng. Tại vị trí đầu xóm Ngũ Phúc, cạnh đường liên tỉnh 21B ngày nay. Khi đình được xây dựng lại, dân làng làm một pho tượng thờ ngài Nguyễn Quang (tức Đức Thánh Cả, vị Thành Hoàng đầu tiên của làng); còn tại quán Xuôi thôn Đinh Xuyên thờ người anh là Phạm Thông và quán Ngược thờ người em là Phạm Nhu thì lúc bấy giờ không có tượng thờ mà chỉ được thờ tưởng vọng, thờ bài vị".

Một thời gian sau, khi thấy trong đình có cây mít to cao, tán lá xòe xanh tốt, các cụ trong thôn mới bàn nhau đốn cây mít xuống để làm pho tượng thờ cho người anh là Phạm Thông trước. Nhưng khi cưa cây mít sát gốc rồi hạ xuống cắt gọt cái đoạn giữa để làm tượng, thì lạ thay, bên trong cây mít có hai lõi: Phần lõi nằm ngoài ôm lấy lõi phía trong, bởi vậy các cụ trong thôn mới bảo: "Em thì nằm trong vòng tay anh, anh nằm bên ngoài ôm ấp lấy em". Và sau đó, thôn cho người tạc tượng hai người.

Khi tạc xong, pho tượng của người em có mặt mũi rất đẹp, nên khi các thầy tự cao tay tập trung hô thần nhập định thì ngài nhận ngay. Còn người anh ở quán Xuôi thì không hiểu lý do vì sao hay tại vì tượng của ngài tạc không đẹp bằng người em nên ngài không nhận?.

Đến khi cúng đi cúng lại nhiều lần, có một vị pháp sư bảo: "Chúng tôi là người trần mắt thịt, ai biết mặt mũi các ngài là như thế nào! Biết các ngài xấu hay đẹp thế nào mà tạc. Các ngài được nhân dân yêu mến, con cháu muốn có nơi để thờ cúng, tôn nghiêm nên có lòng tạc tượng để tôn thờ. Khi nói xong, lạ thay, pháp sư gieo quẻ âm dương và được ngay".

Thực hư câu chuyện lạ

Từ câu chuyện về "sinh đôi, tử đôi" và cây mít lạ có hai lõi ở đình, ông Lê Nguyên Bá đã chiêm nghiệm và khẳng định là có và "rất linh ứng". Nhưng thực hư thế nào thì đó vẫn là một ẩn số, bởi không có một bảng thống kê nào về các trường hợp "sinh đôi, tử đôi" trong làng.

Các cụ Nguyễn Thế Chất, Vũ Đức Như… khi được hỏi về chuyện "sinh đôi, tử đôi" trong làng cũng đều khẳng định là có, nhưng trường hợp cụ thể thì không nhớ.
Đài tưởng niệm anh hùng liệt sỹ làng Đinh Xuyên.
Đài tưởng niệm Anh hùng liệt sỹ làng Đinh Xuyên.

Ông Lê Nguyên Bá cho biết thêm: " Từ khi lập làng đến nay, trải qua biết bao thế hệ, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau về câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" là như thế. Nhưng sinh đôi thì có, còn tử đôi trong làng thì không phải là con cháu trong một gia đình mà là người trong làng.

Chuyện sinh đôi tại thôn Đinh Xuyên là ý người ta muốn nói tới hai anh em Phạm Thông, Phạm Nhu. Còn tử đôi là nói đến chuyện người dân trong một làng và đến bây giờ thì nó vẫn đúng".

Ông Bùi Văn Lịch (Chi hội trưởng hội người cao tuổi thôn Đinh Xuyên) chia sẻ: "Trong thôn từ trước đến nay có nhiều trường hợp sinh đôi, như anh em Nguyễn Hà Chiến và Nguyễn Hà Công (con ông Nguyễn Hà Tiến) sinh năm 1976; cặp sinh đôi một trai một gái năm 1984: Nguyễn Đình Tráng và Nguyễn Thị Dòng (con ông Nguyễn Đình Tế, ở xóm Tam Đăng); cặp sinh đôi sinh năm 1988: Nguyễn Hà Chung và Nguyễn Hà Thành…

Về hiện tượng tử đôi trong thôn thì nhiều lắm, như ngày 15.5 âm lịch, cụ Nguyễn Hà Đới qua đời thì ngày hôm sau lại có ông Đinh Trung Thành qua đời. Còn các trường hợp tử đôi khác mặc dù tôi làm trong ban tang lễ ở thôn nhưng cũng không nắm hết được".

Nói về chuyện "sinh đôi, tử đôi" và cây mít hai lõi trong thôn, ông Nguyễn Khắc Cự - trưởng thôn Đinh Xuyên nói: "Từ trước đến nay, tôi đã nhiều lần nghe các cụ nói về chuyện này nhưng vẫn chưa hiểu hết được thế nào là "sinh đôi, tử đôi".

Còn chuyện về cây mít hai lõi liệu có đúng như các cụ trong thôn thường nói hay không thì tôi không biết. Các cụ truyền miệng như thế thôi, chứ tôi chưa thấy có một văn bản nào ghi chép về vấn đề này. Tôi chỉ biết rằng, sinh đôi là do mottj mẹ sinh ra cùng ngày, cùng tháng, cùng năm ; còn tử đôi là khi trong thôn có người chết thì sau đó vài ngày và muộn nhất là 5 đến 7 ngày lại có một người chết tiếp theo".


Một điển tích thú vị!
 
Câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" làng Đinh Xuyên đã tồn tại nhiều đời nay được truyền khẩu từ đời này sang đời khác và cho đến tận ngày nay. Về chuyện sinh đôi, ta có thể dễ dàng bắt gặp ở bất cứ vùng quê nào, nhưng câu chuyện về tử đôi thì có lẽ chỉ có ở làng Đinh Xuyên, gắn liền với sự tích hai vị Thành Hoàng làng được nhân dân tín vọng, tôn thờ.

Câu chuyện đó mãi là một điển tích thú vị, một nét đẹp văn hóa tồn tại từ xa xưa của một làng quê có lịch sử hàng ngàn năm văn hiến nằm bên dòng sông Đáy này.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Những chuyện về thiện ác nghiệp báo và đầu thai kiếp sau

Ăn trộm phải trả nợ

Xưa có một người tên là Triệu Tam, đi ở cùng với mẹ cho nhà họ Quách. Sau khi mẹ Triệu Tam qua đời hơn một năm, vào một buổi tối nọ, Triệu Tam có một giấc mộng thấy mẹ về nói với ông: “Ngày mai tuyết rơi lớn, bên dưới tường nhà sẽ có một con gà chết cóng vì lạnh, chủ nhân nhất định sẽ thưởng cho con, nhưng con chớ có ăn. Ta đã từng trộm ba trăm đồng tiền của chủ nhân, Diêm vương nay phán ta chuyển thành gà để trả nợ. Ta đã đẻ đủ trứng trong đời này để trả hết số nợ, nên có thể đi được rồi”.

Hôm sau, quả đúng như lời nói trong giấc mộng, có một con gà mái chết cóng dưới bức tường nhà. Chủ nhân thưởng cho Triệu Tam, nhưng Triệu Tam nhất quyết không ăn, mà khóc lóc mang gà mái đi chôn. Chủ nhân cảm thấy rất lạ, mới gặng hỏi. Không còn cách nào khác, Triệu Tam đành đem sự thật kể lại với chủ nhân.

Nhờ bố thí giải được tội 

Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, theo chuyện kể thì ông là người châu Đại Phố (tức Cù lao Phố), huyện Phước Chính, phủ Phước Long, nước Đại Nam (nay là Biên Hòa, Việt Nam).Theo Đại Nam nhất thống chí, ông có tên Võ Hữu Hoằng. Nhưng có nơi gọi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng, Võ Thủ Hoằng.

Khoảng năm 1755, ở châu Đại Phố có một người tên là Võ Hữu Hoằng. Ông xuất thân làm thơ lại. Trong hai mươi năm làm việc trong nha môn, ông đã thu được nhiều tiền của. Sau khi vợ mất sớm lại không con, mà tiền bạc thì quá thừa thãi, Thủ Huồng xin thôi việc về nhà.

Thủ Huồng rất yêu vợ, cho nên khi nghe người mách rằng ở chợ Mãnh Ma (Quảng Yên) là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ. Gặp nhau, trong lúc trò chuyện, Thủ Huồng ngỏ ý muốn xuống âm phủ chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống. Và ông cũng đã nhìn thấy một cái gông to, mà cai ngục cho biết là để dành cho ông vì ông phạm tội ăn cắp.

Khi trở lại cõi dương, Thủ Huồng sợ bị đọa vào địa ngục, liền đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo tránh nước triều dâng ở ngã ba sông.

Sách Gia Định thành thông chí có ghi:

“Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh tên là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. Sau này đường thủy, đường bộ lưu thông, dân cư đông đúc, người qua lại đều dùng ghe nhà nên đò dọc phải dẹp bỏ…Vì kỵ húy tên vua Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Đại Thanh nên phải đọc trại đi là Võ Thủ Huồng. Chiếc cầu Thủ Huồng giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) tương truyền do Võ Thủ Huồng xây dựng đến nay vẫn còn.

Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, và thấy cái gông ngày cũ đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất. Khá lâu sau, có ông vua nhà Thanh (Trung Hoa) tên là Đạo Quang (1782-1850) lúc mới lên ngôi (1820) có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một người ở Gia Định. Số là khi mới sinh, trong lòng bàn tay vua đã có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Khi rõ chuyện, nhà vua có gửi cúng chùa Chúc Thọ (chùa Thủ Huồng) ở Biên Hòa một bộ tượng Phật Tam Thế bằng gỗ trầm hương. Do việc này, mà có người bảo rằng: Nhờ thành thật hối lỗi, Thủ Huồng chẳng những làm tiêu tan cái gông đang chờ ông ở cõi âm, mà còn được đi đầu thai làm vua ở Trung Hoa.

  Tà dâm phải đền tội 

Ngày xưa ở Động Đình có một người tên là Trần Sinh, nhà rất nghèo nên ông ta đưa vợ và em trai đến đất Châu Kinh làm ăn sinh sống. Ở đây khách buôn bán lui tới tấp nập. Trần Sinh tính tình cởi mở hay chiều khách, lại khéo mua bán, nên chẳng bao lâu công việc buôn bán làm ăn phát đạt, nhà rất giàu có.

Rồi một ngày kia, ông bị bệnh nằm liệt giường. Được vài hôm, ông bỗng trỗi dậy gọi vợ cùng em đến bảo rằng: “Ba người chúng ta kiếp trước đều là tu sĩ mắc tội chung nhau gian dâm với một thiếu phụ rồi giết người chồng. Kẻ cầm giao giết người chồng chính là tôi. Nay vì tội gian dâm và giết người nên Minh vương cho quỷ đến bắt, oan trái tất phải đền trả. Bây giờ tôi đi trước, còn hai người chắc cũng không thoát khỏi đâu!”. Nói xong, tự nhổ râu tóc, lấy dao cắt lưỡi mình, lại lấy hai ngón tay tự móc mắt mình, ít phút sau tắt thở. Người vợ và em mấy ngày sau cũng chết.

  Ngoại tình gánh nghiệp nặng 

Hoàng L. là người Thái Bình. Cha anh ta là một người bạn tốt của một vị Hòa thượng danh tiếng và tu luyện tốt, ông cũng giỏi về thơ văn và xem thuật tướng. Trước đó, vị Hòa thượng này đã xem thuật tướng cho Hòang L. và bảo rằng anh ta có một tướng mạo làm giàu, sau này sẽ rất thành đạt trong đường đời của anh ta.

Vào tuổi 20, Hoàng L. đã cưới một cô vợ xinh đep. Vài năm sau, anh ta đã được bổ nhiệm làm việc như một viên chức chính phủ tại thủ đô nhưng vợ của anh ta thì ở quê nhà. Ít năm sau đó, Hoàng L. gặp lại vị Hòa thượng, ông rất đỗi ngạc nhiên về những gì mà ông ta đã nhìn thấy ở anh ta và ông nói, “Cách đây nhiều năm, tôi đã thấy anh có một diện mạo làm giàu nhưng tại sao điều đó đã lại thay đổi? Trán của anh lúc đó đầy đặn nhưng bây giờ nó dường như đã sụp xuống, cằm của anh đã rất tròn nhưng giờ đây nó lại rất nhọn. Ngoài ra, lại có khí đen xung quanh trung tâm của lòng bàn tay của anh. Điều này có nghĩa có tai họa đang chờ đợi anh, anh cần phải cẩn thận. Thuật tướng của anh đã thay đổi rất nhiều. Tôi thắc mắc anh đã làm điều gì không đúng luân thường đạo lý?”

Hoàng L. đã ngẫm nghĩ lại những hành vi của anh ta trong vài năm qua và chỉ một điều mà anh có thể nghĩ đến là việc ngoại tình của anh ta với nhiều phụ nữ khác trong thời gian anh ta làm việc ở thủ đô. Sau khi nghe điều này, vị hòa thượng đã thở dài và nói, “Ban đầu anh được duyên cơ có một cuộc đời tốt, nhưng anh đã không quí nó và đã có hành vi dâm ô với những phụ nữ khác. Đó là một điều hổ thẹn mà anh đã hủy diệt chính sự may mắn của anh trong hành vi này”. Không lâu sau đó, Hoàng L. quả thật đã gánh tai nghiệp vào mình như vị Hòa thượng đã được tiên đoán. Một hôm, trong khi Hoàng L. đang tắm, người cấp dưới của anh đã hại anh ta. Anh đã bị giết bởi một thanh kiếm. Bụng anh ta bị cắt đi và tất cả các nội tạng lọt ra ngoài.

Nói dối phải đền tội 

Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên có kể câu chuyện như sau: Có năm vị tỳ kheo giả làm người tu hành đắc đạo. Họ đến một vùng đất lạ, cất một cái chòi cao, che phướn, lộng, rồi một người lên ngồi nghiêm trang, mắt lim dim, còn bốn người kia đi vào làng kêu gọi mọi người đến xem có một vị tiên tu hành đắc đạo, nếu ai đến lễ lạy, cúng dường sẽ được nhiều phước báu. Cứ thế mà họ thay phiên nhau đi quảng cáo để được cúng dường.

Kiếp sau đó, vào thời Đức Phật còn tại thế, có bốn người khiêng kiệu và một người bảo vệ kiệu của một vị Hoàng hậu đến nghe Phật thuyết pháp. Khi Hoàng hậu đi nghe pháp thì cởi bỏ vòng vàng, nữ trang để trong kiệu. Năm người phụ trách kiệu xe nằm ngủ, kẻ ăn trộm đến ăn cắp tất cả nữ trang của Hoàng hậu. Quân lính cho tra khảo đánh đập tàn nhẫn. Hoàng hậu đến thỉnh ý Phật về nhân duyên gì mà có chuyện như thế. Đức Phật đáp rằng: Năm ông đó kiếp trước là năm thầy tu giả mạo, còn bà là một tín nữ sùng đạo, hết lòng cung kính cúng dường họ. Bây giờ họ phải làm lính khiêng kiệu cho bà để đền nợ trước. Nghe xong, Hoàng hậu vô cùng kinh hãi, sợ mang tội với thầy nên bảo tha và không cho họ khiêng kiệu nữa. Nhưng họ khóc lóc, quì lạy, năn nỉ: Xin lệnh bà rủ lòng thương xót, cho chúng con tiếp tục hầu hạ lệnh bà. Chúng con hứa từ nay sẽ cẩn thận không bao giờ dám ngủ quên như thế. Hoàng hậu thỉnh ý Phật thì Đức Thế Tôn trả lời: Nghiệp báo, họ trả nợ chưa dứt thì làm sao mà họ ra đi dễ dàng được.

Lở lưỡi vì nói sai sự thật 

Ngày xưa ở Trung Quốc có người tên là Vũ Quý Sang. Hắn thích bẻ cong sự thật, chế nhạo, đùa bỡn những lỗi lầm và trêu chọc người khác.

Khi Vũ Quý Sang gặp người xấu xí, hắn cười anh ta, khi gặp người đẹp trai, hắn nhạo anh ta, khi gặp người trí thức hắn nạt anh ta, khi gặp người tinh ranh hắn cố tìm lỗi lầm và chỉ trích anh ta, khi gặp người nghèo khổ hắn coi thường anh ta, khi gặp người giàu có hắn vu khống anh ta, khi gặp quan chức hắn moi móc đời tư của vị này cho mọi người biết, khi gặp một học giả, hắn loan truyền bí mật của người này, khi gặp người hoang phí tiền bạc, hắn ca tụng anh ta là người rộng rãi; khi gặp kẻ nham hiểm chuyên lừa lọc, dữ tợn, độc ác với mọi người, hắn ca tụng gã này là cao cả. Khi gặp người nào nói về giáo lý của nhà Phật, hắn nhạo báng và gọi vị này là Sư; khi gặp người nào nói về Lão Giáo và tu đức hạnh, hắn cười và gọi anh ta là đạo đức giả. Khi thấy ai nói lời tử tế hắn phê bình “Chỉ được lời nói hay”. Khi gặp người làm việc thiện, hắn chỉ trích: “Thật là kỳ cục, tại sao anh làm việc tốt này mà không làm việc tốt kia?”. Đi tới đâu hắn cũng bình luận và nói trái sự thật.

Về sau Vũ Quý Sang bất ngờ bị lở lưỡi. Hắn luôn phải đâm vào lưỡi, để máu chảy đầy miệng, làm như vậy mới bớt đau đớn. Hằng năm hắn bị đau từ năm đến bảy lần. Hắn quằn quại rên siết cực độ khi muốn nói. Cuối cùng hắn chết vì lưỡi bị teo. Đó là nghiệp báo do nói sai sự thật.

  Lời dối trá tạo ra vận mệnh

Ở phủ Hà Giang có người tên là Phùng Thụ Nam, thông minh và viết văn hay. Nhưng anh ta đã lưu lạc ở kinh thành suốt hơn 10 năm trường mà vẫn không thành công. Mỗi khi gặp được cơ duyên thì cuối cùng luôn luôn bị tan vỡ. Khi anh ta nhờ người khác giúp, thì ngoài mặt họ bằng lòng nhưng thực tế là không hề quan tâm gì đến anh ta cả. Cuộc sống của anh ta rất khó khăn, trong lòng vô cùng thất vọng và buồn rầu. Có một lần, anh ta vào miếu khẩn cầu Thần linh gợi ý và hướng dẫn cho vận mệnh của mình.

Đêm đó, anh ta mơ thấy một vị Thần nói với mình: "Anh chớ oán giận đường đời gian khổ. Thực ra, vận mệnh cả đời anh đều là tự anh tạo thành cả, oán hận có ích gì? Kiếp trước anh thích dùng lời dối trá để giành được tiếng thơm là một vị trưởng lão trung hậu. Thấy người khác gặp việc khó khăn, anh biết rõ việc đó không thể thành công, nhưng lại cực lực xúi bẩy người khác làm, khiến người ta cảm ơn anh đã tán thành và gợi ý cho họ. Thấy kẻ ác phạm pháp, biết rõ hành vi tội lỗi của người đó là không thể tha thứ được, anh lại nhiều lần biện bạch cho họ, làm cho người khác cảm kích anh. Anh làm như thế, khiến bao nhiêu những lời cảm ơn tốt đẹp đều dành cả cho anh, còn bao nhiêu oán thù phẫn hận toàn quy kết hết cho người khác. Tâm anh hiểm ác như thế, còn cần phải chỉ ra hay sao? Bởi vậy có thể thấy, người khác đối với anh có vẻ như thân thiết, thực ra là xa cách, tưởng như quan tâm, thực ra là lạnh nhạt thờ ơ, đó cũng là lẽ tất nhiên. Anh tự ngẫm lại xem, như thế có xứng đáng hay không? Đối với một con người, nếu người đó vô tình phạm vài lỗi lầm nào đó, thì có thể dùng một việc thiện nào khác để bồi thường lại. Nhưng nếu một người rắp tâm làm điều sai trái, đó chính là vi phạm đạo đức, không thể tha thứ được. Nếu anh cố gắng làm việc tốt mới có thể được may mắn mà thôi!"
Phùng Thụ Nam nghe xong vô cùng hối hận, sau đó không lâu thì bệnh chết.

Không nên coi thường nói đùa


Vào thời Đông Chu liệt quốc, Tống Mẫn Công có người tướng tên là Nam Cung Trường Vạn. Một hôm đi đánh nước Lỗ, Nam Cung sa cơ thất thế bị giặc bắt. Cũng chính lúc ấy, nước Tống bị thiên tai, Lỗ Trang Công không nghĩ đến thù xưa, còn sai người sang cứu giúp. Tông Mẫn công thấy thế cho sứ giả đến tạ ơn và xin tha cho Nam Cung Trường Vạn. Nam Cung được thả về nước, Tống Mẫn Công ra nói đùa: “Trước kia ta rất coi trọng ngươi, bây giờ đã là tù nhân thì ta không còn trọng nữa đâu”. Thấy Nam Cung ngây ra, mặt đỏ tía tai, hết sức hổ thẹn, Đại phu Cừu Mục nói với Tống Mẫn Công: “Vương công chớ nên coi thường sự đùa dỡn mà sinh ra lòng khinh nhờn hay dẫn đến sự phản nghịch. Tống Mẫn Công trả lời: “Ta với Nam Cung Trường Vạn rất thân thiết, khanh chớ có sợ”. Một hôm Tống Mẫn Công đánh cờ thắng Nam Cung Trường Vạn nên đắc ý nói đùa dỡn: “Người là tên tù chẳng làm được việc gì, làm sao đánh thắng được ta”. Nam Cung Trường Vạn tức giận đứng lên nói: “Kẻ tù này tuy đánh cờ không thắng được vua, nhưng có thể giết vua”. Nói xong, lấy bàn cờ đập vỡ đầu Tống Mẫn Công chết ngay tại chỗ, rồi làm loạn.

Sự nói đùa dẫn đến nghiệp báo như thế.

  Nói ác khẩu bị đọa làm khỉ  

Đây là câu chuyện Đức Phật dạy về việc Ác Khẩu và quả báo của nó:

Ngày xưa trong thành Xá Vệ có một người nhà rất giàu, tên gọi là Sư Chất, đã hơn 40 tuổi rồi mà chưa có con. Hai vợ chồng rất lo lắng, đến nhà Bà La Môn xin bốc một quẻ bói xem sau này có sinh được đứa con trai hay con gái nào không? Nhưng họ vô cùng thất vọng nghe thầy bói trả lời rằng suốt đời họ sẽ không có con. Sư  Chất nghe thế không chịu tin, lại đi tìm một ông thầy tướng số khác, cao tay ấn hơn, nhiều kinh nghiệm hơn xin bốc quẻ. Lạ thay, vị thầy tướng này vốn được mọi người tôn kính và khen ngợi là bói linh như thần, lại cũng làm cho Sư Chất thất vọng.

Sư Chất đi về mà lòng phiền muộn, bỗng sực nhớ đến bậc đại thánh Thích Ca Mâu Ni, tự  nghĩ: Đức Phật là giáo chủ của trời và người, là bậc Nhất thiết trí, không có gì là Ngài không biết, không có gì là Ngài không hiểu, tại sao ta lại không đến gặp Ngài xin chỉ giáo?

Nghĩ đến đây ông bèn nhắm hướng Kỳ Viên tinh xá mà đi. Cung kính đảnh lễ Đức Phật xong, ông chắp tay bạch: “Bạch Đức Thế Tôn đại bi, xin Ngài thương xót chúng sinh ngu si mà chỉ giáo: con có chút ưu tư, năm nay đã hơn 40 mà chưa có đứa con trai nối dõi, đó là do nhân duyên gì, cúi xin Đức Phật khai thị”.

Đức Phật trả lời: “Không lâu nữa ông sẽ có một đứa con trai, vừa có phúc lại vừa có đức, chỉ có điều là khi nó vừa lớn nó sẽ xin xuất gia”.

Nghe tin này Sư  Chất rất đỗi vui mừng, thành tâm đảnh lễ chân Phật, rồi thỉnh cầu: “Cầu xin Thế Tôn và chư tăng cho phép chúng con được cúng dường vào trưa mai, để chúng con được kết thêm thiện duyên và trồng chủng tử vào ruộng phước của Như Lai”.

Đức Phật nhận lời rồi, Sư Chất hoan hỉ quay về chuẩn bị đàn trai. Hôm sau ông dẫn đầu gia nhân, chân thành cúng dường những món ăn thức uống ngon lành đẹp mắt nhất.

Đức Phật nhận cúng dường xong, thuyết một thời pháp rồi dẫn đầu tăng chúng quay về tinh xá. Đi được nửa đường, Đức Phật và tăng chúng ngồi dưới một gốc cây bên bờ sông nghỉ ngơi. Bỗng từ trên cây, một con khỉ nhảy xuống xin mượn bình bát của Đức Phật. Nó ôm bình bát chạy đi thật xa rồi quay về, trong bình bát chứa đầy mật ngọt. Nó dùng hai tay kính cẩn dâng bình bát lên Đức Phật, Ngài nhận lấy và chia cho chư tăng dùng, để con khỉ được nhiều phúc đức. Con khỉ thấy thế mừng rỡ nhảy nhót.

Không lâu sau nó đến ngày tận số, đầu thai làm người, sinh vào nhà của Sư  Chất. Lúc nó sinh ra, trong nhà phàm có vật dụng gì có thể chứa đựng thức ăn, thì vật dụng ấy bỗng đầy ắp mật và đường. Vợ chồng Sư Chất thấy điều quái dị, bèn do nhân duyên này đặt tên con là Mật Thắng.

Thời gian vùn vụt trôi mau như tên bắn, hơn mười năm trôi qua như trong nháy mắt, Mật Thắng nay đã lớn khôn. Chú bé chán ngán chuyện thế tục, xin phép cha mẹ cho mình được xuất gia, cha mẹ hết sức vui mừng mà trả lời: “Lúc con chưa ra đời, Đức Phật đã biết sẽ có ngày hôm nay. Bây giờ con muốn xuất gia, cha mẹ rất hoan hỉ. Không bao giờ cha mẹ ngăn chặn con một cách vô lý”.

Được cha mẹ hoan hỉ cho phép rồi, Mật Thắng đến Kỳ Viên tinh xá xin xuất gia với Đức Phật. Nhờ có tiền duyên, Mật Thắng chứng quả rất mau.

Một hôm, thầy đang trên đường đi độ hóa với các bạn đồng tu, cảm thấy vừa nóng vừa khát lạ thường, ai nấy đều ao ước có một cái gì uống. Tỳ kheo Mật Thắng bèn cầm bát tung lên trời rồi sau đó dùng hai tay tiếp lấy bát trở về. Bấy giờ trong bát đựng đầy mật ngọt, Mật Thắng bèn chia cho chúng tăng giải khát.Về tới tinh xá, một vị tỳ kheo đi tìm Đức Phật xin thỉnh giáo: “Trong quá khứ tỳ kheo Mật Thắng đã tu được phúc đức gì mà bây giờ bất cứ  lúc nào, ở đâu cũng có thể có đường và mật?”.Đức Phật trả lời: “Các ông có nhớ có một lần lâu lắm rồi, có một con khỉ đem mật ngọt đến cúng dường Như Lai và chúng tăng không? Nhờ bố thí với thiện tâm, chết rồi nó được sinh ra làm người và nhờ nó chân thành cúng mật ngọt cho Phật nên kiếp này nó có thể được mật bất cứ  lúc nào và ở đâu”. Đức Phật nói xong, vị tỳ kheo nọ hỏi tiếp: “Bạch Thế Tôn! Thế thì tiền kiếp Mật Thắng do nhân duyên gì mà bị đọa xuống làm khỉ?”. Lúc ấy xung quanh Đức Phật có rất nhiều đệ tử vân tập, Ngài nhìn họ một lúc rồi đáp: “Thầy ấy bị đọa xuống làm khỉ là do một nhân duyên xẩy ra cách đây 500 kiếp trước, thời Ca Diếp Như Lai còn tại thế. Lúc đó có một vị tỳ kheo trẻ tuổi, tình cờ thấy một vị tỳ kheo khác đang băng qua một con suối nhỏ, vị trẻ tuổi bèn cười chế nhạo, bảo là dáng điệu của vị tỳ kheo kia giống hệt như con khỉ. Vị tỳ kheo trẻ tuổi đã phạm tội ác khẩu nên bị đọa xuống làm khỉ, nhưng sau đó thầy ấy biết lỗi lầm của mình, đến xin sám hối với vị tỳ kheo mà mình đã chế nhạo. Nhờ thắng duyên ấy mà kiếp này mới được gặp Phật và được Phật độ, chứng quả A La Hán một cách mau chóng.

Nghe đức Phật giảng xong, các vị Tỳ kheo đều nhận ra rằng một câu nói ác cũng có thể chiêu cảm nghiệp khổ, vì thế không còn ai dám ác khẩu, ngay cả đến một câu nói đùa cũng không dám nói.



Nói lời bịa đặt gây nghiệp ác 

Ngày xưa có một ông trưởng giả rất giàu có, tiền muôn bạc triệu, tài sản dùng suốt đời không hết, lại có người vợ vừa xinh đẹp vừa hiền đức, nên đã hạnh phúc lại càng hạnh phúc hơn. Nhưng niềm vui của ông ngắn ngủi, Ông lập gia đình một thời gian lâu mới sinh được một đứa con trai, ngày đứa bé ra đời ông vui mừng khôn kể xiết. Nhưng bất hạnh thay, đứa con ông chỉ mới khóc oe oe chào đời đã vương bệnh nặng. Theo lời thầy thuốc chẩn bệnh thì đó là những mụn nhọt độc hại mọc trên da đứa bé khiến nó khóc cả ngày, thế nhưng danh y nào mời đến cũng đều lắc đầu chịu thua. Tội nghiệp đứa bé, rất nhiều thầy thuốc đã bó tay rồi, mà nó vẫn cứ đêm ngày khóc la vì đau đớn, cuộc sống thật là khổ sở.

Tiếng khóc gào rên rỉ của nó làm náo động tới bà con làng xóm, nên người ta đặt tên cho nó là thằng “Khóc Gào”. Gần nhà cậu có một ông hàng xóm già, nghe tiếng rên la đau đớn của Khóc Gào, trong lòng thấy bất nhẫn, bèn tìm đến nhà cậu thăm hỏi và nói với cậu rằng: “Tôi nghe rất nhiều người về khen ngợi tán thán rằng tại Tinh xá Kỳ Viên có một vị Đại Y Vương, bệnh trên thân hoặc bệnh trong tâm của chúng ta Ngài đều có thể chữa trị được hết. Ngài có phương tiện thần thông nhiệm mầu, bệnh của cậu có trầm trọng đến đâu cũng sẽ tức khắc lành, cậu nên mau mau tìm đến Ngài cầu xin chữa bệnh. Khóc Gào nghe nói thế, vui mừng vô kể, vội mang tấm thân bệnh hoạn tìm đến Tịnh xá Kỳ Viên xin được gặp đức Phật.

Khi Khóc Gào nhìn thấy 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trên thân uy nghi sáng chói của Phật, cậu hân hoan tán thán ngay. Những đau đớn khổ não của cậu giảm thiểu đi rất nhiều, lập tức gieo cả năm vóc xuống đất lễ bái đức Phật.

Đức Phật từ bi chưa từng bỏ rơi bất cứ chúng sinh bệnh khổ nào, nên khi thấy Khóc Gào tới, Ngài rất hoan hỉ, bèn tuyên thuyết cho cậu những pháp môn thù thắng có năng lực diệt trừ tất cả mọi khổ não. Khóc Gào nghe Đức Phật thuyết pháp xong bèn sám hối tội lỗi. Lúc ấy nhọt độc đã hành hạ cậu trên mười năm qua lập tức tan biến, bệnh khổ của cậu hoàn toàn được tiêu trừ, nên tâm cậu sinh khởi niềm cung kính hoan hỉ chân thành, cậu bèn cầu xin đức Phật cho phép cậu được xuất gia làm tỳ kheo. Cậu tu hành tinh tiến, chẳng bao lâu đắc quả A la hán.

Các vị tỳ-kheo khác thấy tình cảnh của Khóc Gào như thế, thấy đó là điều rất hy hữu, bèn thỉnh Thế Tôn nói về nhân duyên khiến cho cậu phải chịu quả báo lúc trước. Đức Phật giảng cho các đệ tử nghe rằng: “Vô lượng kiếp về trước, ở thành Ba La Nại có hai vị phú ông nọ. Bình thường hai người đã không ưa nhau và đố kỵ nhau, nên một trong hai người đem rất nhiều vàng bạc châu báu lên dâng tặng nhà vua. Khi nhà vua nhận những vật cống hiến của ông này rồi thì rất quý trọng ông. Vì thế khi ông này gièm siểm ông kia trước mặt nhà vua rằng “người ấy vô cùng hiểm ác, thường dùng mưu độc ám hại tôi, xin Đại vương hãy nghiêm trị người ác để bảo vệ dân lành”, thì nhà vua vốn đã nhận vật cống hiến nên không còn sáng suốt nhận định, nhất nhất tin lời ông này và ra lệnh bắt giam, không đếm xỉa tới những lời biện hộ của người kia, còn đem ra tra tấn tàn khốc. Người này phải chịu tất cả những hình phạt đau đớn nhất, thương tích đầy thân như vẩy cá, phải nhờ gia đình xuất tiền chuộc tội mới được thả về nhà. Về tới nhà ông suy nghĩ không ngừng, thấy rằng con người vì có thân cho nên mới có khổ, mới bị lắm tai nhiều họa. Mình và người kia không hề có oán thù chi mà họ lại có thể hại mình đến mức thân tàn ma dại như thế này. Không lâu sau, ông bỏ gia đình vào núi tu hành và thành Bích Chi Phật.

Vị Bích Chi Phật phát tâm đại từ bi, sợ rằng người kia kiếp sau sẽ chịu quả báo đau khổ nên tới nhà người ấy thị hiện đủ loại thần thông, khiến người kia thấy những biến hóa bất khả tư nghì như thế, sinh tâm kính ngưỡng, lập tức thỉnh Bích Chi Phật lên tòa ngồi và chuẩn bị đủ loại thực phẩm đặc biệt để cúng dường và sám hối tội cũ của mình đối với Ngài.

Đức Phật nói đến đây, ngừng một lúc rồi nói tiếp: “Các ông phải biết, người sàm tấu với vua chính là tỳ kheo Khóc Gào đã chịu khổ trong kiếp này. Sau, nhờ ân huệ của Bích Chi Phật, sám hối tội lỗi cũ, và nhờ công đức thành kính quy y Tam Bảo nên ngày nay được Như Lai cứu độ, mau đắc quả thánh. Đừng nghĩ rằng những lời sàm tấu nói ra mà không ai biết. Nghiệp tội không trốn được, dẫu trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng đã phạm tội như thế rồi mà biết sám hối thì có thể được cứu độ.