Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh huyền bí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh huyền bí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Mơ thấy người chết điềm lành hay điềm dữ?

Trong cuộc sống, không ít người nằm mơ thấy xác chết. Khi đó, chúng ta thường thắc mắc giấc mơ lạ lùng này ẩn chứa ý nghĩa gì? Là điềm báo tốt hay xấu? Thực tế, có rất nhiều loại giấc mơ liên quan đến người chết và chúng có những ý nghĩa khác nhau.
Theo nghiên cứu tâm linh, quả thật trong giấc mơ nếu xuất hiện một xác chết thì bạn sẽ gặp điềm lành, báo hiệu sự thành công may mắn.
Mơ thấy người chết là điềm báo tốt hay xấu?
Vào thời cổ đại, người ta quan niệm, mơ thấy xác chết là điềm báo liên quan đến tình hình tài chính. Tuy nhiên, để có thể biết chính xác ý nghĩa của giấc mơ thì bạn phải nhớ các chi tiết về xác chết như quần áo, độ tuổi và tình trạng cơ thể... Giới tính của người nằm mơ cũng đóng vai trò quan trọng bởi nó có mối liên hệ với quá trình suy nghĩ. Thêm vào đó, bạn cũng cần chú ý đến số lượng xác chết xuất hiện trong những giấc mơ vì chúng sẽ góp phần thay đổi ý nghĩa giấc mơ của bạn.
Cùng giải mã những giấc mơ liên quan tới người chết xem sao!
- Nếu bạn mơ thấy thi thể của phụ nữ thì có thể bạn sắp có được sự thành công trong công việc nhờ tài giao tiếp của mình. Nếu mơ thấy thi thể của nam giới thì đó là điềm may mắn rằng sự nghiệp của bạn sẽ ngày càng thăng tiến.
- Nếu bạn mơ thấy xác chết là người lạ thì vẫn chưa đến lúc phải lo lắng nhiều. Bởi đó hoàn toàn là giấc mơ lành, nó báo trước cuộc đời bạn sẽ được hạnh phúc, no ấm.
Bạn mơ thấy gì?
- Trong giấc mơ xuất hiện nhiều xác chết thì sao? Nếu mơ thấy có hơn một xác chết, nghĩa là người mà bạn tin tưởng hoặc một số người mà bạn quen sẽ phản bội bạn. Đó thật sự là tin tốt lành, rằng bạn sắp gặt hái được thành công từ một lĩnh vực mà lâu nay bạn không hề để ý đến.

- Mơ thấy cuộc khám nghiệm tử thi trong giấc mơ, chắc hẳn bất cứ ai cũng cảm thấy sợ hãi. Nhưng thật ra đó lại là thông điệp tốt đẹp, rằng bạn hãy chuẩn bị tinh thần đón nhận điều thú vị và mới lạ sắp diễn ra.
- Mơ thấy xác chết như người đang ngủ, thường là điềm báo bạn vừa vượt qua được trở ngại nào đó.
- Mơ thấy xác chết trôi sông là điềm báo bạn sắp phát tài.
- Trong giấc mơ, bạn nhận được ra xác chết là ai, đây chính là lúc mà bạn cần phải chú ý bởi đó là tin không tốt lành, nó báo trước việc chia rẽ trong mối quan hệ nào đó của bạn.
- Nếu ta mơ thấy cha hoặc mẹ vốn đã qua đời, bạn hãy chờ đợi, tin tức quan trọng có thể sẽ đến. Nếu bạn nói chuyện với cha hoặc mẹ quá cố trong mơ, tin tức tốt lành sẽ sớm xuất hiện, có thể là dưới hình thức thừa kế.
- Mơ thấy cha hoặc mẹ chết trong giấc mơ rồi bạn khóc thì đó là điềm báo mọi chuyện bạn đang làm sẽ đạt được ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Nằm mơ thấy xác chết là những thành viên trong gia đình thì nó chứng tỏ, bạn sẽ tự tin, dũng cảm vượt qua mọi áp lực trong cuộc sống.
- Mơ thấy xác chết nằm trong quan tài, thường là điềm báo bạn sắp gặp phải chuyện buồn.
- Đừng lo lắng nếu mơ thấy người chết chính là mình. Đó là giấc mơ báo hiệu sự thăng hoa của tài vận. Nó báo hiệu tài sản của bạn sẽ ngày càng tăng thêm, mọi chuyện trong cuộc sống cũng diễn ra theo chiều hướng tốt đẹp. Nếu bạn mơ thấy mình đang chôn cất người khác thì đó là dấu hiệu chứng tỏ tài sản của bạn sẽ bị thất thoát, hao hụt. Ngược lại, nếu mơ thấy người được chôn cất chính là mình thì bạn sẽ có cơ hội rinh nhiều tài lộc trong cuộc sống.
- Mơ thấy người chết bật dậy từ trong quan tài là điềm báo sắp có người bạn cũ lâu không liên lạc đến thăm.
- Mơ thấy bạn bè chết, bạn sẽ gặp may mắn.
- Mơ thấy nói chuyện với người chết là điềm báo bạn sắp đạt được nguyện vọng nhỏ, sắp có tin vui hoặc những sự việc nhỏ đang tiến hành sẽ thành công.
- Mơ thấy gặp người chết đi vào trong nhà là dấu hiệu may mắn đến gần.
- Mơ thấy mình ôm thi thể người chết là điều cát lợi, có nhiều tài vận.
- Mơ thấy lửa thiêu thi thể là điềm báo bạn sắp được đón nhận nhiều điều tốt lành.
- Mơ thấy mình tham dự lễ truy điệu chứng tỏ, bạn sắp mang thai hoặc người thân sắp sinh em bé.
- Đàn ông mơ thấy người vợ đã chết và thấy mình sắp sẽ kết hôn với phụ nữ giỏi là điềm báo họ sẽ có trợ thủ trong sự nghiệp.
- Quả phụ mơ thấy người chồng quá cố là điềm báo họ sẽ khó đi bước nữa.
- Mơ thấy người đã chết ăn cơm, bạn sẽ sống lâu.
- Nếu mơ thấy người chết khóc thút thít là điềm báo khó khăn đang tới gần.
- Mơ thấy mình ôm khung xương người chết ám chỉ rằng, bạn sắp bị người khác nói xấu hoặc lừa dối.
- Mơ thấy việc chôn cất người khác là dấu hiệu tài sản của bạn bị thất thoát. Nhưng nếu người được chôn cất là chính mình, bạn sẽ gặp nhiều may mắn về tiền bạc.
- Có người mơ thấy mình cùng gia đình đi du lịch bằng tàu tới một hòn đảo nhỏ. Khi đang ăn tối, bạn bỗng nghe thấy tiếng ồn vọng vào từ phía biển và khi nhìn ra từ cửa sổ thì không thấy có gì bất thường. Sau đó, bạn quyết định lên boong tàu quan sát thì đột nhiên thấy mình đang ở dưới nước. Lúc này, bạn nhìn thấy giường của xác chết và nhận ra rằng mình cũng có thể sẽ là một trong số đó nếu không có ai kéo bạn lên khỏi mặt nước. Giấc mơ này hàm nghĩa bạn đang bị rối loạn cảm xúc. Các xác chết trong giấc mơ ám chỉ bạn đang bị mất lòng tin và có trạng thái tâm lý không ổn định.
- Nếu trong giấc mơ, bạn nhìn thấy và nói chuyện được với người chết và hồn ma đó chính là người cha của mình, chứng tỏ, bạn sẽ gặp trở ngại trong giao dịch. Vì vậy, hãy cẩn thận hơn khi ký kết hợp đồng hay cảnh giác hơn với kẻ thù xung quanh mình. Nếu trong giấc mơ người chết là anh em trai hoặc người thân, bạn bè của bạn, chứng tỏ bạn có thể kêu gọi từ thiện, viện trợ trong một thời gian ngắn.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Rùng mình chuyện rắn thần báo oán ở Thái Nguyên

Sự tồn tại của rắn thần trong ngôi đền Long Khánh Từ thuộc xã Kỳ Phú, Đại Từ, Thái Nguyên với những lời đồn ma quái, chết chóc nếu có người dám cả gan mạo phạm đến thánh thần làm người nghe rùng mình.
Cầu mưa với thần rắn
Câu chuyện của ngôi đền Long Khánh Từ - và nhiều người dân trong vùng gặp được hai thần rắn xuất hiện trong ngôi đền càng trở nên kỳ bí hơn khi vào cuối những năm 1968, tại khu vực xã Kỳ Phú xuất hiện một trận hạn hán kéo dài khiến cho ruộng đồng khô hạn, nứt nẻ, không thể trồng cấy được bất cứ cây gì, người dân trong vùng cũng không có nước mà uống, ai nấy đều sợ vận hạn sẽ xảy ra.
Cận cảnh trong ngôi đền thờ thần rắn
Bí quá, người dân chẳng biết than ai đành tụ họp nhau lại mua lễ đến đền Long Khánh Từ cầu các thần linh ban mưa thuận gió hòa để người dân được trồng cấy. Sau khi khấn vái thần rắn xong, người dân xã Kỳ Phú mới ra trước cửa đền cùng té nước, tạo mưa giả, sau đó vào ngôi đền nhỏ gần đó thắp hương cầu khấn.
Ngay đêm hôm đó, trời nổi gió và mưa to kéo đến. Kể từ đó, người dân thường xuyên mang lễ vật đến đền Long Khánh Từ thắp hương. Sau này, đền được mọi người tu sửa khang trang. Cứ thành tục lệ khi nào gặp hạn hán, người dân cả vùng lại kéo nhau vào đây té nước cầu mưa.
Những câu chuyện lạ ngày xưa
Không dừng lại ở đó, từ sau khi rắn thần lần đầu tiên vào năm 1968, đã có hàng loạt những hiện tượng tâm linh lạ xảy ra xung quanh ngôi đền khiến cho mọi người khiếp sợ.
Câu chuyện thứ 1
Vào năm 1970, con ông Mã Điền ở xóm Chuối đi chăn trâu đến gần ngôi đền không có cửa, thấy bên trong có hoa quả người dân đem đến thờ cúng nên đã cả gan vào trộm. Đến tối khi về nhà, đứa bé này bỗng dưng đau bụng dữ dội, tới đêm thì qua đời mà không ai rõ lý do.
Chỉ đến khi sự việc xảy ra gần được 1 tháng, những đứa trẻ trong vùng mới kể cho mọi người nghe về sự việc thì người nhà ông Mã Điền mới ngã ngửa, đem hương hoa lên đền Long Khánh Từ để cầu khấn, mong thần linh phù hộ cho linh hồn đứa con tội lỗi sớm được siêu thoát và thần không giáng tội xuống cả gia đình.
Câu chuyện thứ 2
Ở ngôi đền cũ có cây đa rất to, đến khi phải ngả đi thì cây có tuổi thọ là 52 năm, ngoài ra còn có hai cây lựu cao khoảng 18 mét. Năm đó có một người đàn ông tên Thức làm bên thủy lợi, không hiểu vì lý do gì đã chặt cho hai cây lựu đổ về phía đền.
Lạ thay, khi cây lựu ngã đổ thì một cơn gió thổi mạnh đẩy cây rạp ra phía bờ suối. Người đàn ông đó sau khi về nhà mấy ngày thì tự tay treo cổ hai người con trai, bản thân ông ta ngay tối hôm đó cũng uống thốc sâu tự tử. Bao năm qua, người dân nơi đây vẫn còn nhớ câu chuyện này.
Đền Long Khánh Từ, thuộc xã Kỳ Phú, huyện Đại Từ, Thái Nguyên
Câu chuyện thứ 3
Vào một đêm năm 1998, người đàn ông trong làng do bí tiền quá đã đến ngôi đền này lấy trộm bát hương chính đem bán. Mấy hôm sau, người đàn ông đó bỗng nhiên lăn đùng ra ốm. Gia đình mang đi khắp các bệnh viện lớn nhỏ để chữa trị nhưng không tìm ra bệnh. Trong khi đó, người đàn ông này lúc tỉnh lúc mê, nhiều khi còn nói năng nhảm nhí, xưng mình là thánh thần giáng trần.
Hôm sau, gia đình họ mang bát hương đến ngôi đền đặt lại đúng vị trí cũ rồi mượn thầy về cúng suốt ba ngày ba đêm ở ngôi đền thì anh ta mới hết bệnh.
Câu chuyện thứ 4
Vào năm 1997, khi chính quyền trong vùng bắt đầu khởi công xây dựng hồ chứa nước Vai Miếu, đã có một đám công nhân đến đây dựng lán ở suốt một thời gian dài để xây dựng công trình. Theo những câu chuyện được truyền miệng, khi đám công nhân tiến hành dỡ bở đền Long Khánh Từ thì đôi rắn thần bất ngờ bò ra. Có một số công nhân thấy thế liền vác cuốc xẻng đuổi bắt nhưng không được.
Đến tối, khi đám công nhân này đã tắm rửa và bắt đầu nghỉ ngơi, kết thúc một ngày làm việc vất vả thì bất ngờ ngôi lán bị sập khiến một công nhân tử vong. Điều làm mọi người kinh hãi là nạn nhân chính là người đầu tiên phát hiện ra đôi rắn và cố đuổi bắt nhưng không được. Từ đó, đám công nhân sợ quá phải nghỉ làm mấy ngày liền. Có người đã phát ốm, không dám làm ở công trình hồ Vai Miếu nữa mà xin nghỉ việc.
Và những câu chuyện sau này
Nỗi sợ hãi về việc bị rắn thần trừng phạt vì phạm phải đất thiêng tiếp tục được nối dài khi vào năm 2002, một thanh niên tên Thắng ở xóm Gió, xã Kỳ Phú đến hồ Vai Miếu tắm lúc trưa nhưng rồi cũng không thấy về. Người thân và bà con hàng xóm cũng đi tìm xác nạn nhân nhưng không thấy. Sau 3 ngày, dân làng thấy xác nạn nhân nổi lên ở vị trí chính giữa chân đập hồ.
Tiếp đến, năm 2005, một người đàn bà tên Tình (xóm Dứa, xã Kỳ Phú) lội qua suối để sang bờ bên kia đi bộ về nhà, đi đến giữa suối thì bất ngờ nước từ trong nguồn ào ra cuốn trôi bà ra hồ. Bà con nhân dân trong xóm phải thắp đóm đi tìm khắp các ghềnh đá ven hồ. Mọi nỗ lực tìm kiếm tưởng chừng như vô vọng thì may sao một thanh niên trong xóm lặn xuống, đã thấy xác bà mắc ở một gốc cây khô dưới lòng hồ – nơi ấy chính là nền móng của ngôi đền Long Khánh Từ trước đây.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu phong thủy ,các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra hay có những lý giải về các hiện tượng này. Nhưng với người dân trong vùng, họ vẫn luôn tin tưởng có một năng lượng gì đó ở ngôi đền, nhất là với rắn thần.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Thực hư chuyện Vong nhập và lý giải hiện tượng nhập vong

Trong cuộc sống, người ta vẫn thường nói đến những câu chuyện ”vong nhập”, lấy người sống để áp vong người chết, cho dương thế “giao lưu” với âm phủ? Đó có thực sự là câu chuyện có thật hay không thì vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp một cách thỏa đáng bằng khoa học.
Vong nhập vào trẻ con
Không phải chờ đến khi các trung tâm tìm mộ với chiêu “áp vong” người chết mọc lên như nấm thì người ta mới nói nhiều về việc vong nhập vào người mà những câu chuyện ấy đã tồn tại trong dân gian từ lâu nay. Chuyện những đứa trẻ “bị ma làm”, “bị hồn bắt mất vía” đã không còn xa lạ.

Ông Trần Văn Chung ở Hải Xuân, Hải Hậu, Nam Định nhiều năm trước được xã ủy quyền cho việc thu tiền điện. Ông Chung sinh hai đứa con đầu đều không may qua đời khi vừa tuổi lên 3. Một lần ông đi thu tiền điện của một hộ gia đình, thấy con chủ nhà dễ thương, ông có hỏi han mấy câu. Khi ông vừa rời khỏi cửa, đứa trẻ bắt đầu khóc cho đến tận nửa đêm vẫn không nín. Gia đình tá hỏa, ai cũng bảo do ông Chung có qua đây, đứa trẻ con ông Chung đã là ma nhập vào người ông Chung, khi gặp đứa trẻ con khác thì thích trêu đùa. Và nếu khi đã bị ma nhập thì chỉ có ông Chung mới làm cho đứa bé nín. Quả tình, chả biết thế nào, khi ông Chung đến và nói: “Hai đứa Dần, Mão lên lưng bố cõng về, đừng ở đây trêu cháu nữa”. Rồi ông làm động tác cõng đứa trẻ trên lưng mà đi về nhà. Lạ thay, khi ông Chung đi về thì đứa trẻ kia cũng nín, ngoan ngoãn ăn uống và đi ngủ. Chính người vợ ông Chung trong một lần lên thăm cháu ruột khi đầy tháng cũng đã khiến đứa trẻ đó quấy khóc và vợ chồng ông ở nhà đã phải đốt hương gọi con về.
Trẻ em – theo quan niệm của nhiều người thường là nhẹ vía nên rất dễ bị vong nhập. Con gái chị Nguyễn Minh Thu ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vốn là một bé gái khỏe mạnh năm nay đã lên 5 tuổi. Trong một lần về quê, cháu đi chơi và gặp một bụi hoa mẫu đơn liền hái về nhà chơi. Sau đó thì mặt mũi cháu bỗng tái xanh và đến khoảng 9h tối bắt đầu khóc lóc, không chịu đi học. Ngay hôm sau, sự việc vẫn tiếp diễn. Sự việc xảy ra trong vòng 1 tuần và chị buộc phải cho con nghỉ học ở nhà, nhưng ở nhà bé không ăn không uống và thỉnh thoảng ngồi lảm nhảm nói chuyện một mình. Chính bà ngoại cháu đã chứng kiến cháu ngồi nói chuyện một mình liền hỏi nói chuyện với ai thì bé nói là nói với bạn, nhưng đó là người mà bà không nhìn thấy. Chị Thu hỏi thì nhận được câu trả lời “bạn nhưng mẹ đến thì bạn ấy đi mất”, chị hỏi nói chuyện gì thì bé nói “bạn rủ con đi vào vòng xoáy”. Lúc này mọi người trong nhà mới nghĩ ra chỗ bụi mẫu đơn mà cháu hái hoa có một cháu bé trạc tuổi cô bé này bị tai nạn xe máy qua đời. Chị Thu rất hốt hoảng nhờ thầy bắt vong. Thầy cho con chị đeo bùa vào người, 1 ngày sau, cháu mới hồng hào trở lại, ăn uống bình thường và tiếp tục đi học như chưa có chuyện gì xảy ra.
Vong nhập cả vào người lớn
Không chỉ những em bé nhẹ vía mới bị cho là vong nhập mà ngay kể cả những cô cậu học trò 17,18 tuổi cũng bị vong nhập. Vào khoảng tháng 10-2011, tại trường Nguyễn Văn Trỗi, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh người ta đã đồn ầm ĩ về chuyện “trường học có ma” khi thấy nữ sinh tự nhiên ngất xỉu, sau khi tỉnh dậy có hành động kỳ lạ khác bình thường. Theo lời kể của các học sinh, thì 2 nữ sinh bị cho là vong nhập đã nói ở phía dưới dãy nhà của lớp 12 có nhiều hài cốt chưa được bốc đi, họ đói rách, lạnh lẽo lắm. Rồi xin nhà trường lập bàn thờ, đốt hương vàng, áo vải cho. Các bạn của 2 nữ sinh này đã rất nhiều lần thấy 2 nữ sinh ngất đi, tỉnh lại tự xưng mình là người rất xa lạ, khi nói là đàn ông 51 tuổi, khi thì xưng là trẻ con. Gia đình các nữ sinh cũng cho con đi khám tại các bệnh viện song kết quả là không bệnh tật gì, sức khỏe tốt rồi cho thuốc an thần về uống. Chính thầy giáo Lê Thái Phi – Phó Hiệu trưởng nhà trường cũng cho rằng có hiện tượng như vậy và rất khác thường nhưng để giải thích thì thật khó nói cho thỏa đáng.
Trước đó vào khoảng tháng 8-2011, cậu học trò Đỗ Văn Bình ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức vốn ngoan ngoãn, chăm học, vừa thi hai trường ĐH Công nghiệp và CĐ Y Hà Nội đang chờ kết quả bỗng trở nên thay đổi lạ thường. Bình không chịu ăn uống gì chỉ liên tục “nốc rượu”, hai mắt gằn lên những tia lửa đỏ rực, luôn miệng quát tháo những người trong nhà. Người làng rì rầm kháo nhau, ấy là nó bị “vong” nhập. Nhưng khác với hai nữ sinh ở Hà Tĩnh, Bình không tự nhiên bị nhập mà do “thầy” tác động để tìm mộ liệt sỹ. Nhưng việc tìm mộ không diễn ra như mong muốn của gia đình mà Bình thì mỗi lần “vong nhập” đều rất mệt mỏi vì quay cuồng đầu óc.
Anh thanh niên Nguyễn Hữu Đ ở Thanh Miện, Hải Dương trong lần tìm đến Liên hiệp Khoa học ứng dụng lại cho rằng mình bị “ma chửa” nhập vào. Mặt mũi đỏ gay đỏ gắt, nói giọng con gái ẻo lả, cứ lúc khóc lúc cười khanh khách, cái bụng tự nhiên trương phình lên như người chửa 8 tháng (?!). Mỗi lần ma nhập, anh thanh niên này phải cởi ngay quần áo kẻo bụng phình lên đứt hết cúc và đau đớn không chịu nổi. Nhiều lần các nhà khoa học đã dùng máy móc hiện đại để chụp chiếu, siêu âm phần bụng đột nhiên trương phình của anh ta, song vẫn không phát hiện ra nguyên nhân do đâu. Khi “ma nhập”, các nhà khoa học và gia đình đưa anh ta đi viện, song cứ đến viện là bụng liền xẹp đi, cơ thể trở về trạng thái bình thường. Các bác sĩ cũng khám và siêu âm các kiểu, song không phát hiện anh Đ có bệnh gì, thần kinh cũng hoàn toàn bình thường. Khi các nhà khoa học sử dụng phương pháp dân gian là dùng roi dâu vụt vào cơ thể anh ta, thì tự nhiên “con ma” thoát ra ngoài, và cái bụng anh dần dần xẹp xuống (?!).
Vong nhập hay bệnh tâm thần?
Theo bác sĩ Trần Văn Cường, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương thì vong nhập, lên đồng… là một trạng thái tâm lý đặc biệt, một trạng thái bệnh lý xuất phát từ vô thức một nhóm bệnh nằm trong bảng phân loại về các loại bệnh tâm thần đã được tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp vào mục F44.3. Một người bị vong nhập tức là người đó không bình thường, có vấn đề về thần kinh hoặc tâm thần (nhẹ hoặc nặng).
Nguồn gốc của hiện tượng vong nhập là sự tương tác của ám thị lạ và tự ám thị. Khi một người đi áp vong, hoặc lên đồng thường ngồi tập trung như ngồi thiền để đầu óc trống rỗng. Trạng thái này đưa bộ não trở về vô thức. Trong trạng thái khởi đầu vô thức, người đó vẫn nhận biết xung quanh, tiếp nhận các ám thị lạ như về liệt sĩ, về đau thương, về chiến trận qua thầy pháp hoặc nhà ngoại cảm. Khi bộ não chìm vào vô thức các tác động từ bên ngoài sẽ là ám thị lạ tạo ra sự tự ám thị. Trong trạng thái tự ám thị nhiều khi rất mạnh mẽ đặc biệt đối với những người có thế năng bệnh tâm thần cao, bộ não sẽ nhào nặn, xây dựng thành các kịch bản đặc biệt.
Cái đáng sợ là hiện tượng vong nhập thường xảy ra ở những người yếu bóng vía hoặc vừa trải qua một cơn biến động tâm lý, ví dụ vừa ốm dậy, hoặc thường có tình trạng bất bình thường, tức là đã có dấu hiệu của bệnh tâm thần. Thế năng của bệnh đã đủ lớn nhưng do kiềm chế của bộ não bệnh chưa phát ra. Tuy nhiên nếu dự các buổi áp vong và bị vong nhập thì cuộc áp vong giống như giọt nước cuối cùng làm cho thế năng tâm thần được giải phóng và gây bệnh. Cùng câu hỏi này theo Thượng tọa Thích Quảng Tùng – Trụ trì chùa Hàng, Thủy Nguyên, Hải Phòng thì điều đó cũng có thể xảy ra. Bản thân Thượng tọa mỗi chiều chủ nhật hàng tuần cũng có tiếp xúc với một số người thì thấy rằng đúng là có những người có cách xử sự hơi khác người bình thường, la hét, nói lăng lảm nhảm nhưng không phải ai trong số họ cũng bị ma nhập. Trong số hàng trăm người tìm đến Chùa Hàng vì cho rằng Thượng tọa có thể bắt ma thì họa hoằn mới có người có thể bị vong nhập, còn như nhiều nghiên cứu khoa học đã cho thấy, người trần dù có tu hành đi chăng nữa mà nhìn thấy vong theo người khác cũng là người không bình thường, có dấu hiệu thần kinh.
Trước tình trạng nhiều người quá tin vào chuyện vong, linh hồn nhập vào người đang xôn xao trong dư luận, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu, ban đầu họ cho rằng đây là hiện tượng của bệnh thần kinh những áp lực về cuộc sống, tiềm thức khiến cho họ cần phải dùng thế lực siêu nhiên để giảm đi những áp lực ấy hay còn gọi là sự ''rối loạn đa nhân cách''. Tuy nhiên hiện tượng “ma nhập” vẫn còn là đề tài chưa có hồi kết, vẫn cần nhiều lời giải đáp.

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Kỳ lạ phong tục "thờ hồn sống", "treo quan tài lơ lửng"

Tục “thờ hồn sống” là một trong những phong tục của người Pa Kô được gìn giữ từ ngàn đời xưa đến nay. Người Pa Kô quan niệm rằng, thần Bổn mạng (Yang cơt) chính là vị thần tối cao sinh ra con người và trong mỗi người đều có linh hồn.
Pa Kô - tiếng Việt có nghĩa là "người bên núi", nhưng trong truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc mà người Pa Kô lưu truyền cho con cháu từ đời này sang đời khác được ông Hồ Văn Hạnh - Bí thư Đảng ủy xã Hồng Trung kể lại, tổ tiên người Pa Kô lại không hề ở "bên núi" chút nào. Ông kể: "Ngày xưa, lâu lắm rồi, người Pa Kô làm ăn sinh sống ở một khu vực gần với biển, với ruộng đồng. Nơi đồng bào sinh sống còn có một đồng bào anh em khác nữa. Qua năm tháng, người Pa Kô và người anh em láng giềng vẫn sinh sống hòa thuận, rồi thì xuất hiện hai người nhà giàu - chủ thể của đất họp bàn để nhường phần đất đang sinh sống lại cho một trong hai người làm kinh đô - lập quốc. Một cuộc thi thố đã được thống nhất giữa hai "người láng giềng" - xây một tòa thành trong vòng một đêm, ai thua thì phải nhường lại "kinh đô" của mình cho "đối phương" đi tìm một vùng đất mới.
Tục “thờ hồn sống” của người Pako
Cũng như bao tộc người của dân tộc Việt Nam, người Pa Kô cũng có những sinh hoạt văn hóa phong tục riêng. Trong đó những nghi lễ về tang ma là một nét độc đáo trong truyền thống phong tục của tộc người này.
Tục “thờ hồn sống” là một trong những phong tục của người Pa Kô được gìn giữ từ ngàn đời xưa đến nay. Người Pa Kô quan niệm rằng, thần Bổn mạng (Yang cơt) chính là vị thần tối cao sinh ra con người và trong mỗi người đều có linh hồn.
Tục “thờ hồn sống” được bắt đầu từ khi đứa trẻ chào đời được một tháng tuổi. Lúc đó, ba mẹ làm lễ cúng đặt tên cho đứa trẻ để báo với các vị thần, tổ tiên về sự hiện diện của đứa trẻ trên thế gian. Thầy cúng Côn Nam, thôn Pa Ling (A Vao, Đakrông), cho biết: “Có nhiều người phải "thờ hồn sống" ngay từ nhỏ, bởi vì hay ốm đau, mong muốn có được thần Bổn mạng che chở, cho sức khỏe tốt. Khi lớn lên, tùy theo từng hoàn cảnh, điều kiện và ước muốn của từng người mà lựa chọn hình thức thờ phụng "hồn sống”.
Trong phong tục "thờ hồn sống" của người Pa Kô, có một điều đặc biệt đó là người phụ nữ được thờ thần Bổn mạng qua nhiều giai đoạn hơn so với nam giới, từ hiện vật là cái áo, khăn tay…đến cái bát lên thành Ruông- Rốp, nâng tiếp thành Ruông- Cưa, Ruông- Pin, Hing và cao nhất là Luông (một vị trí thờ đặt ở nơi cao nhất, trang trọng nhất trong nhà). Đối với nam giới, từ cái bát bỏ qua ba giai đoạn của phụ nữ để lên thẳng Hing đến Luông. Tất nhiên, để đi đến tận cùng giai đoạn cao nhất trong "thờ hồn sống" cần phải có người thầy cúng tài cao, đức trọng mới đủ tư cách thu phục Bổn mạng, đưa "hồn sống" lên vị trí cao nhất.
Trong đời sống, người Pa Kô luôn đề cao, tôn trọng vai trò người phụ nữ. Vì thế, khi “thuyền theo lái, gái theo chồng” thì bố mẹ đẻ vẫn phải có trách nhiệm "thờ hồn sống" cho con gái mình. Khi bố mẹ đẻ qua đời thì trách nhiệm này chuyển sang cho chú, anh trai, em trai thờ phụng. Người Pa Kô luôn gìn giữ và lưu truyền tục "thờ hồn sống" để mọi người đi đâu, làm gì cũng đều nhớ về nguồn cội, có trách nhiệm yêu thương, tình yêu , đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống. Khi người phụ nữ về nhà chồng được 2- 3 năm và có ước nguyện chuyển "hồn sống" mình sang thờ tự ở nhà chồng thì phải làm lễ đón "hồn sống" từ nhà ba mẹ đẻ sang nhà chồng. Để hoàn thành ước nguyện, bên cạnh sự đồng ý hai gia đình, đòi hỏi cả hai nhà phải có kinh tế khá giả, bởi việc tổ chức lễ cúng đưa- đón "hồn sống" diễn ra với nhiều nghi thức cầu kỳ và lễ vật tốt kém.
Nghi lễ này diễn ra trong thời gian một ngày, một đêm, gồm có 3 phần. Phần thứ nhất làm lễ tiếp thầy, sau đó cả thầy và chủ nhà thực hiện nghi thức như nhau là trình tổ tiên, gia tiên. Tiếp đó, thầy cúng trình các thần che chở, niệm các bài tụng trong phép cúng. Trong quá trình cúng, thầy cúng thực hiện 28 bài tụng, kết hợp nhảy, múa thể hiện các động tác liên quan đến đời sống sinh hoạt và lao động của người Pa Kô. Phần thứ 2 là rước hồn vào nhà, phần 3 là dựng Luông. Cứ theo từng phần, đồ lễ vật nhiều hơn, to hơn và đa dạng hơn, cách cúng cũng cầu kỳ phức tạp hơn. Theo quan niệm người Pa Kô, khi đưa "hồn sống" lên vị trí cao nhất trong "thờ hồn sống" của mình là họ đã hoàn thành tâm nguyện, từ đó sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống, nhưng quan trọng hơn cả là họ sẽ luôn được các thành viên trong gia đình, họ tộc nhớ đến và bản thân họ cũng luôn nhớ về nguồn gốc của mình.
Một phong tục kì lạ khác của người Pa Kô là tục tang treo. Người Pa kô bao đời nay vẫn còn lưu giữ tục TANG treo vô cùng kỳ lạ. Đến một chu kỳ nhất định, họ khai quật mả người chết lên, sau đó bỏ vào những cái A Pổ (cái tiếu) rồi đặt nằm rải rác trên mặt đất suốt năm tháng. Nhưng kỳ lạ, sau khi an táng treo, người dân trong làng sẽ bị cấm đến nghĩa địa để thăm viếng mộ người nhà. Nếu để người làng bắt được, họ sẽ bị bắt vạ. Xung quanh tục táng treo này, tồn tại rất nhiều câu chuyện kỳ bí đến rợn người.
Người chết được chôn xuống đất sau 3-5 năm, thậm chí đến 10 năm thì được cất lên làm lễ cải táng rồi đưa vào trong những cái Piêng (lăng mộ). Điều đặc biệt là trước đó, những chiếc quan tài sẽ được treo lơ lửng giữa không gian.
Mỗi Piêng có ít nhất 3 tiểu, bởi theo tập tục, mỗi lần cải táng phải từ 3 người trong họ trở lên. Được biết, để lễ cải táng diễn ra một cách thuận lợi, gia đình nhà có người đã khuất cử người con trai cả băng rừng vượt núi đi gọi họ hàng, anh chị em thân thích sống du canh du cư dọc dãy Trường Sơn về dự. Dù xa xôi đi mấy chăng nữa, người thân vẫn phải tề tựu đầy đủ, không thiếu sót một người. Lễ nghi này thể hiện lòng biết ơn, kính trọng của con cháu đối với đấng sinh thành.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Ly kỳ chuyện làng “sinh đôi, tử đôi” và lời đồn cây mít lạ

Từ xưa cho đến nay, vấn đề sinh tử là một lẽ tự nhiên ở đời. Song, câu chuyện về “sinh đôi, tử đôi” thì có lẽ chỉ có ở thôn Đinh Xuyên, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Tại nơi làng quê có lịch sử trên 2000 năm nằm ven dòng sông Đáy hiền hòa thơ mộng này, các cụ cao niên chiêm nghiệm, đúc kết và kể lại câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" như một nét riêng biệt, khác lạ vốn đang hiện hữu trong đời sống của làng quê mình. Câu chuyện đó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn liền với sự tích hai vị Thành Hoàng làng được nhân dân tín vọng, tôn thờ.

Ly kỳ chuyện "sinh đôi, tử đôi" và cây mít lạ ở đình

Câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" được các cụ cao niên trong thôn Đinh Xuyên kể lại, gắn liền với sự tích hai anh em sinh đôi có tên là Phạm Thông và Phạm Nhu được nhân dân suy tôn làm Thành Hoàng làng.

Theo Ngọc phả và các đạo sắc phong còn lưu giữ tại đình thôn Đinh Xuyên, hai ngài Phạm Thông và Phạm Nhu là anh em sinh đôi, con của cụ Trần Thị Lan (quê thôn Đinh Xuyên) lấy chồng về Hải Dương. Vào ngày 12.1 năm Bính Thân, cụ Trần Thị lan sinh đôi được hai người con trai, đặt tên là Phạm Thông và Phạm Nhu.

Khi các ông đã lớn, do ở Hải Dương có nhiều biến cố nên hai ông được đưa về quê ngoại (thôn Đinh Xuyên) ở với cậu ruột là tướng công Trần Kiên. Được cậu dạy dỗ, văn võ thao lược, cùng nhau chiêu mộ quân sỹ và triệu tập được hàng nghìn trai tráng, hai ông lập ra hai trận địa ở đầu và cuối thôn Đinh Xuyên (ở vị trí quán Ngược và quán Xuôi ngày nay) tập luyện võ nghệ.
Cổng tam quan chùa Đinh Xuyên.
Cổng tam quan chùa Đinh Xuyên.

Vào năm 40, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, hai ông mang theo số quân chiêu mộ được đi theo phù hai Bà đánh đuổi quân Đông Hán, giành thắng lợi và bà Trưng Trắc xưng vương. Ba năm sau (năm 43), nhà Đông Hán sai Mã Viện mang 50 vạn quân sang đánh nước ta.

Để ngăn bước tiến quân của giặc, giữ gìn và bảo vệ non sông, người anh chiến đấu hết mình với một lòng trung quân ái quốc nhưng do chênh lệch về lực lượng nên quân ta thua trận. Tại cứ điểm, địa bàn xung yếu Tây Hồ (Hồ Tây - Hà Nội ngày nay), người anh hy sinh.

Sau đó, người em tuẫn tiết theo anh, gieo mình trên dòng sông Hát Giang (sông Đáy - Hà Nội ngày nay) để thể hiện chí khí của mình. Cảm động trước khí tiết và ân đức to lớn của hai ngài, dân làng thôn Đinh Xuyên phong hai ngài là Thành Hoàng làng và lập hai quán để thờ phụng. Quán Ngược thờ người em là Phạm Nhu, quán Xuôi thờ người anh là Phạm Thông.

Cũng câu chuyện sinh đôi - tử đôi, trong thôn còn kể câu chuyện về cây mít lạ, bên trong có hai lõi.

Ông Lê Nguyên Bá, một sỹ quan quân đội hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, nay đã về hưu kể lại: "Cách đây trên 20 năm, tôi được nghe cụ Nguyễn Hà Bạn là một cao niên trong làng kể rằng: Đình làng Đinh Xuyên ngày nay mới được dựng lại cách đây trên 300 năm.

Trước, đình nằm ở ven dòng sông Đáy, do mùa mưa nước tràn vào trong đình nên các cụ mới bàn nhau chuyển đình vào giữa làng. Tại vị trí đầu xóm Ngũ Phúc, cạnh đường liên tỉnh 21B ngày nay. Khi đình được xây dựng lại, dân làng làm một pho tượng thờ ngài Nguyễn Quang (tức Đức Thánh Cả, vị Thành Hoàng đầu tiên của làng); còn tại quán Xuôi thôn Đinh Xuyên thờ người anh là Phạm Thông và quán Ngược thờ người em là Phạm Nhu thì lúc bấy giờ không có tượng thờ mà chỉ được thờ tưởng vọng, thờ bài vị".

Một thời gian sau, khi thấy trong đình có cây mít to cao, tán lá xòe xanh tốt, các cụ trong thôn mới bàn nhau đốn cây mít xuống để làm pho tượng thờ cho người anh là Phạm Thông trước. Nhưng khi cưa cây mít sát gốc rồi hạ xuống cắt gọt cái đoạn giữa để làm tượng, thì lạ thay, bên trong cây mít có hai lõi: Phần lõi nằm ngoài ôm lấy lõi phía trong, bởi vậy các cụ trong thôn mới bảo: "Em thì nằm trong vòng tay anh, anh nằm bên ngoài ôm ấp lấy em". Và sau đó, thôn cho người tạc tượng hai người.

Khi tạc xong, pho tượng của người em có mặt mũi rất đẹp, nên khi các thầy tự cao tay tập trung hô thần nhập định thì ngài nhận ngay. Còn người anh ở quán Xuôi thì không hiểu lý do vì sao hay tại vì tượng của ngài tạc không đẹp bằng người em nên ngài không nhận?.

Đến khi cúng đi cúng lại nhiều lần, có một vị pháp sư bảo: "Chúng tôi là người trần mắt thịt, ai biết mặt mũi các ngài là như thế nào! Biết các ngài xấu hay đẹp thế nào mà tạc. Các ngài được nhân dân yêu mến, con cháu muốn có nơi để thờ cúng, tôn nghiêm nên có lòng tạc tượng để tôn thờ. Khi nói xong, lạ thay, pháp sư gieo quẻ âm dương và được ngay".

Thực hư câu chuyện lạ

Từ câu chuyện về "sinh đôi, tử đôi" và cây mít lạ có hai lõi ở đình, ông Lê Nguyên Bá đã chiêm nghiệm và khẳng định là có và "rất linh ứng". Nhưng thực hư thế nào thì đó vẫn là một ẩn số, bởi không có một bảng thống kê nào về các trường hợp "sinh đôi, tử đôi" trong làng.

Các cụ Nguyễn Thế Chất, Vũ Đức Như… khi được hỏi về chuyện "sinh đôi, tử đôi" trong làng cũng đều khẳng định là có, nhưng trường hợp cụ thể thì không nhớ.
Đài tưởng niệm anh hùng liệt sỹ làng Đinh Xuyên.
Đài tưởng niệm Anh hùng liệt sỹ làng Đinh Xuyên.

Ông Lê Nguyên Bá cho biết thêm: " Từ khi lập làng đến nay, trải qua biết bao thế hệ, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau về câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" là như thế. Nhưng sinh đôi thì có, còn tử đôi trong làng thì không phải là con cháu trong một gia đình mà là người trong làng.

Chuyện sinh đôi tại thôn Đinh Xuyên là ý người ta muốn nói tới hai anh em Phạm Thông, Phạm Nhu. Còn tử đôi là nói đến chuyện người dân trong một làng và đến bây giờ thì nó vẫn đúng".

Ông Bùi Văn Lịch (Chi hội trưởng hội người cao tuổi thôn Đinh Xuyên) chia sẻ: "Trong thôn từ trước đến nay có nhiều trường hợp sinh đôi, như anh em Nguyễn Hà Chiến và Nguyễn Hà Công (con ông Nguyễn Hà Tiến) sinh năm 1976; cặp sinh đôi một trai một gái năm 1984: Nguyễn Đình Tráng và Nguyễn Thị Dòng (con ông Nguyễn Đình Tế, ở xóm Tam Đăng); cặp sinh đôi sinh năm 1988: Nguyễn Hà Chung và Nguyễn Hà Thành…

Về hiện tượng tử đôi trong thôn thì nhiều lắm, như ngày 15.5 âm lịch, cụ Nguyễn Hà Đới qua đời thì ngày hôm sau lại có ông Đinh Trung Thành qua đời. Còn các trường hợp tử đôi khác mặc dù tôi làm trong ban tang lễ ở thôn nhưng cũng không nắm hết được".

Nói về chuyện "sinh đôi, tử đôi" và cây mít hai lõi trong thôn, ông Nguyễn Khắc Cự - trưởng thôn Đinh Xuyên nói: "Từ trước đến nay, tôi đã nhiều lần nghe các cụ nói về chuyện này nhưng vẫn chưa hiểu hết được thế nào là "sinh đôi, tử đôi".

Còn chuyện về cây mít hai lõi liệu có đúng như các cụ trong thôn thường nói hay không thì tôi không biết. Các cụ truyền miệng như thế thôi, chứ tôi chưa thấy có một văn bản nào ghi chép về vấn đề này. Tôi chỉ biết rằng, sinh đôi là do mottj mẹ sinh ra cùng ngày, cùng tháng, cùng năm ; còn tử đôi là khi trong thôn có người chết thì sau đó vài ngày và muộn nhất là 5 đến 7 ngày lại có một người chết tiếp theo".


Một điển tích thú vị!
 
Câu chuyện "sinh đôi, tử đôi" làng Đinh Xuyên đã tồn tại nhiều đời nay được truyền khẩu từ đời này sang đời khác và cho đến tận ngày nay. Về chuyện sinh đôi, ta có thể dễ dàng bắt gặp ở bất cứ vùng quê nào, nhưng câu chuyện về tử đôi thì có lẽ chỉ có ở làng Đinh Xuyên, gắn liền với sự tích hai vị Thành Hoàng làng được nhân dân tín vọng, tôn thờ.

Câu chuyện đó mãi là một điển tích thú vị, một nét đẹp văn hóa tồn tại từ xa xưa của một làng quê có lịch sử hàng ngàn năm văn hiến nằm bên dòng sông Đáy này.

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Sát sinh và quả báo luân hồi

Giết lợn bị đọa vào địa ngục A Tỳ
 
Truyện Pháp Cú kể rằng: Lúc Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tinh xá Trúc Lâm, cách đó không xa, có đồ tể Cunda sống bằng nghề mổ lợn. Mỗi lần giết lợn, ông ta trói thật chặt vào cột và nện nó bằng một cây chày vuông, rồi banh hàm và rót nước sôi vào họng, kế đến đổ nước sôi lên lưng, làm tuột lớp da đen và thui lớp lông cứng bằng một bó đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu lợn bằng một thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt, lột da. Và Cunda đã sống bằng nghề mổ và bán thịt như thế gần hai mươi năm. 

Dù đức Ðạo Sư ở tinh xá cách đó không xa mà chẳng khi nào Cunda cúng dường Ngài, dù là một cành hoa hay một nắm cơm, cũng không làm một việc công đức nào cả. Một hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng lửa của địa ngục A Tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình địa ngục giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta bắt đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt miệng ông ta, chặn các cửa và nhốt ông ở trong nhà. Suốt bảy ngày, chịu sự đau khổ, ông luôn mồm rống eng éc như lợn . 

Vài tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng lợn kêu eng éc ồn ào, khi về tinh xá, bạch với Đạo Sư: “Bạch Thế Tôn, trong bảy ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông ấy vẫn tiếp tục giết lợn. Thế Tôn nghĩ xem, biết bao nhiêu con bị giết. Thật từ trước tới nay chưa thấy ai độc ác và dã man như thế!” 

Đức Đạo Sư nói: “Này các Tỳ kheo! Ông ta không giết lợn trong bảy ngày qua đâu. Sự trừng phạt phù hợp với việc làm ác đã xảy đến đối với ông ta. Ngay khi ông ta còn sống, cực hình của địa ngục A Tỳ đã đến. Vì cực hình này, ông ta bò tới bò lui trong nhà, kêu la eng éc như một con lợn suốt bảy ngày. Hôm nay ông ta đã chết và bị đọa vào địa ngục A Tỳ”.

 

Giết trâu đền tội 

Trong quyển Hồi hương bút ký có một đoạn mô tả: Vào đời Thanh Tuyên Tông, năm Đạo Quang ở huyện Đào Khê (Trung Quốc) có một kẻ chuyên môn mổ thịt trâu đem bán mà mọi người ai cũng biết. Đó là Phạm Đăng Sơn. Suốt đời giết hại không biết bao nhiêu con trâu vừa đem bán, vừa để ăn. Một hôm trên không bỗng nhiên mây đen tích tụ lại, trời đất tối sầm, rồi mưa gió nổi lên dữ dội, sấm chớp vang rền. Ngay lúc ấy, sét đánh trúng Phạm Đăng Sơn nhưng không chết, song mặt mày cháy lém, da thịt cuộn lại, đau đớn rên la, kêu rống lên một cách thê thảm, hai mắt đẫm lệ trợn lên như sắp lồi ra ngoài. Do lửa đốt, da thịt nứt nẻ, anh ta dùng tay cạo những chỗ thịt bị rã nát, vò lại rồi bỏ thẳng vào miệng vừa ăn vừa nói: "Thịt trâu ngon quá". Trải qua chừng vài tháng rồi tắt thở. Những người chứng kiến cảnh ấy, ai nấy đều cảm thấy lạnh xương sống. Nên biết rằng sự báo ứng của nghiệp sát sinh hết sức là trầm trọng, mà quả báo của việc giết trâu bò lại càng trầm trọng hơn vì chúng có công với người đời.

Hãy từ bỏ nghề sát sinh 
Câu chuyện này xảy ra ở Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Một người đàn ông sinh sống bằng nghề giết mổ lợn. Ông có bốn con trai và một con gái. Ba người con trai lớn theo nghề của cha kiếm tiền, cuộc sống gia đình rất khá giả. Sau khi ông chết đi ba người con trai lớn vẫn tiếp tục nghề đó. Một ngày nọ, họ mua một con lợn về chuẩn bị mổ thịt, thì họ bị sửng sốt khi nghe con lợn nói “Làm ơn đừng giết tôi, đừng giết tôi.” Họ hỏi: "Ngươi vừa mới nói gì?" Con lợn nói: “Ta là cha của các con. Đừng giết ta. Ta được đầu thai thành lợn, bởi vì ta phạm phải tội rất lớn đó là giết rất nhiều lợn khi còn sống. Hôm nay ta được xếp đặt để gặp các con để truyền đạt một điều quan trọng: “Hãy từ bỏ nghề mổ lợn và tìm nghề khác mà làm.”

Con lợn chết sau khi nói xong. Mấy anh em buồn khóc thảm thiết và đem chôn con lợn này. Họ chia nhau tài sản của gia đình và mỗi người đi một đường. Người con trai đầu trở thành đại lý bán gạo; người con trai thứ ba mở một cửa tiệm bán quần áo. Người con trai út vẫn còn rất bé. Người con gái thì theo chồng. Người con trai thứ hai vẫn tiếp tục làm nghề giết mổ lợn bất chấp lời cảnh cáo của cha mình.

Một hôm anh ta dùng hết gia tài của mình mua một bầy lợn. Khi anh lùa bầy lợn qua một bờ đê, một cơn gió mạnh đột ngột tới làm thành bão cát bao phủ cả vùng trời. Gió rất mạnh và tràn khắp vùng làm anh ta không cách nào mở mắt ra được. Anh ta không còn chọn lựa nào khác đành phải ngồi xuống bờ đê và đợi hết gió. Cơn gió kéo dài 4 giờ đồng hồ. khi anh ta mở mắt ra, không thấy còn con lợn nào cả. Anh ta đã mất sạch hết tiền. Anh ta cảm thấy hối hận, và ngồi ở đó khóc và khóc đến khi đôi mắt bị mù.

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

Những điều cấm kỵ về mặt tâm linh

Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại,nhưng vẫn có một thế giới,đó là thế giới tâm linh với nhiều điều bí ẩn,thế giới ấy có từ ngày xưa và củng được ông bà ta kể lại,có những điều cấm kỵ kiêng cữ ,nhưng chuyện ma quỷ kỳ bí,những việc thờ cúng,lên đồng,chuyện tiền kiếp và hậu kiếp vvv....

Một số điều kiêng kỵ mà bạn nên biết
+Chải tóc lúc nửa đêm: Quan niệm của ông bà ta, khi chải tóc lúc nửa đêm là chải cho ma xem…

+Không mua bán đinh vào ban đêm: Các bạn cứ thử vào 7h tối tới tiệm tạp hóa mua đinh,đảm bảo chủ
quán sẽ ko bán.

+Đi vào nơi có mồ mả không được nói bậy: Cho nên thường đi thanh minh hay tảo mộ,người ta kỵ không
cho con nít theo,vì con nít còn nhỏ thường thắc măc tò mò,đôi khi lại nói bậy.Người lớn cũng vậy khi vào nơi mồ mã cũng không nên nói bậy.Trong việc làm ăn buôn bán củng vậy

+Không lật mình cá: Tài xế,người đi biển nếu bạn để ý thì họ ăn cá như sau:ăn xong một bên mình con cá thì họ rút xương con cá lên ăn tiếp chứ không có lật mình con cá lại vì lật mình con cá theo những người làm tài xế thủy thủ sẽ có điềm gở,lật xuồng,lật xe,lật tàu.

+Trong làm ăn buôn bán,thì không nên để cho cái kiếng, hoặc bát quái của người ta rọi vào gian hàng của mình,và mình cũng vậy.Vì khi làm như thế công việc làm ăn không được thuận lợi.Nhà ở cũng vậy không để kiếng của người ta chiếu vào nhà mình hoặc các vật sắc nhọn.

+Trong nhà có người chết vì treo cổ,thì khi lấy tử thi xuống,lấy sợi dây đó đốt ngay:.Đây là câu chuyện có thật, nếu nhà nào đó có người treo cổ chết,nhưng không đốt sợi dây đó đi,một năm sau cũng nhà đó có
người chết treo cổ củng ở ngay vị trí ấy,chính vì thế đó được coi là sợi dây oan nghiệt,nếu không đốt đi thì nó vẫn luẩn quẩn quanh nhà đó,và cứ mỗi năm tay phiên nhau chết.

+Nếu đi đám ma,lỡ người quá cố ấy có xinh gái hay đẹp trai thì không được khen :Vì
nếu khen thì học sẽ đi theo mình.

+Kiêng cữ trong đám tang
1.Người khắc tuổi với người chết,trong lúc động quan hoặc hạ huyệt thì không được dòm dù là người thân.Vì như vậy sẽ làm cho người chết khó siêu thóat.

2.Khi có người thân mất,thì các mặt kiếng trong nhà đều phải lấy vôi vẽ vào kiếng hình chữ thập
vì hơi người chết sẽ làm ố kiếng hoặc làm nứt kiếng.Ô kiếng nứt kiếng là điềm gở không may cho chủ nhà.Và củng có người nói nếu không làm vậy thì khi soi kiếng hình người chết sẽ hiện lên.

3.Khi tẩm liệm thì không cho con mèo nào đến gần người chết,không cho con mèo nhảy qua mình người chết,nhất là lọai mèo Linh Miêu,lọai mèo này giống như mèo thường khó phân biệt,và nhận biết chúng bằng cách cho con chuột chạy qua,nếu thấy nó vồ tới bắt là mèo thường,còn thấy nó ngồi yên con chuột chạy qua tự nhiên lăng đùng ra ngất là Linh Miêu.Vì sao không cho mèo đến gần người chết hay nhảy qua vì lý do như sau.Khi mèo đến gần tữ thi nó sẽ bắt hồn người chết,và khi mà nó nhảy qua thì xác chết bật dậy.Theo khoa học ngày nay cho rằnng đó là do lông mèo có điện,nhưng theo tôi giả thuyết đó không thuyết phục lắm,vì lông mèo nếu có điện thìđiện tích nhỏ không đủ để cho người chết bậc dậy.
Khi tầm liệm cũng không được khóc(hơi tàn nhẫn nhỉ,nhưng mún khóc thì tìm chỗ khác khóc),vì khi khóc hồn người chết thấy đau thương quá không đi được.

4.Ngườinào có tang(khăn tang) trong người thì không nên tới nhà những người bạn,hay người thân vì sẽ "lây" cái tang và đem điều không may đến cho họ.
5.Không được cắt tóc,cạo râu,cắt móng tay,hay vui chơi,mà phải luôn giũ bộ mặt u buồn.Cái này thì ngày nay không còn nữa nhưng vẫn còn rải rác ở nhưng gia đình hơi bị phong kiến.
6.Sau khi an táng,trong vòng 1 tháng ban đêm có ai gọi tên mình thì tuyệt đối,không được trả lời,không được mở cửa,không được thưa gởi gì hết.Thông thường người chết vì quá thương tiếc người thân của mình nên về bắt người thân đi theo. Có câu chuyện như sau: sau khi chôn người chết,đêm đến sẽ có
một con chim,ông bà xưa gọi là chim Nanh mỏ đỏ hay bay tới mộ mới đấp,và sẽ mổ vào hồn người chết,tra tấn họ bắt họ khai ra tên người thân trong nhà,ở đâu,nơi nào và khi hồn người chết khai ra thì con chim Nanh mỏ đỏ này sẽ tới nhà người thân đó mà bắt hồn mang đi.thường thì nó hiện ra
hình người xuất hiện ở đầu ngõ hay trước cửa nhà,nó sẽ kêu tên người trong nhà đó ai mà thưa gửi,hoặc mở cửa là xong rồi đó tự hiểu,nếu không bắt được nó sẽ tìm ai đó bắt mang về "chơi".Cho nên ông bà ta có câu :Đi đêm lắm có ngày gặp ma.

+Buổi tối ,không chơi năm mười,hay còn gọi là cút bắt.Khi chơi,xui xẻo sẽ bị ma dấu,và nó cho ăn đất
+Đi ngủ cũng vậy. Cái đầu không được hướng ra đường,có hai lý do ,một là đầu hướng ra đường đó là tư thế nằm của người chết.hai là khi ngủ hồn của ta xuất ra nếu hướng ra đường thì hồn của ta sẽ đi luôn ra đường.
+Không cho mèo lạ vào nhà sanh đẻ,coi chừng chuột không cho nó cắn gối đầu nằm:hai cái này luôn mang điềm gở cho chủ nhà,
+Các nghệ nhân khi tạc tượng Phật thì chú ý bàn tay của Phật,nếu lỡ tay làm gãy thì,không bao lâu ngón tay của họ củng gãy theo. (sưu tầm)

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Bí ẩn ma lực của bùa yêu người Thái

Khi đã bị thả bùa, nửa kia sẽ cảm thấy nôn nao, mấy ngày không gặp sẽ lên cơn điên dại. Nếu một trong hai người không may chết đi, người kia sẽ phải cắt duyên. Bí kíp luyện bùa yêu của người Thái.
Trái với bùa yêu của người mường là cần phải lấy được một vật thân thuộc của đối tượng, như áo, chiếc lược, thỏi son, đôi dép… Bùa yêu của người Thái có loại để yểm vào những đồ vật thân thuộc đó chứ không cần lấy nó. Tuy nhiên, người Thái có một loại bùa có sức mạnh hơn bùa của người Mường. Đó là bùa “mằn yêu” bằng mọi thứ.

Một mâm cỗ để hóa giải bùa yêu
Cái “mằn yêu” này không cần phải vật thân thuộc của đối tượng mà chỉ cần một nắm muối, cốc nước, chén chè, chén rượu, một cái kẹo, thậm chí một cành cây, viên đá, sỏi cũng có thể làm đối tượng si mê không dứt ra được.
Khi đã “dính” bùa, đối tượng sẽ tự tìm đến người thả bùa. Chỉ cần một ngày mà không nhìn thấy, người bị “dính” bùa sẽ đứng ngồi không yên, bồn chồn và tìm đủ mọi cách để đến với người thả bùa. Người đó sẽ không thể làm chủ được lý trí, mọi sự tác động bên ngoài đều không thể chia lìa họ. Họ sẽ nên vợ nên chồng bởi sự kết mối, se duyên của bùa yêu.
Ông Kiểu cho hay: “Người bị yểm bùa yêu không thể nào bỏ nhau được nếu không được chính thầy “mằn” phá bùa. Ngay cả khi hai người đã là vợ chồng thì hai người cũng không hề rời xa nhau được hai ngày. Nếu vượt giới hạn, cả hai người có thể bị nổi cơn, biến thành điên dại vì nhớ nhau.
Chính vì vậy, người chồng hoặc người vợ có chuyện phải đi xa vài ngày thì người thả bùa phải đến xin “thầy” bùa hóa giải. Lễ vật hóa giải gồm một con gà hoặc vịt và thịt lợn để “thầy” tạm hoãn ma lực của bùa yêu.
Còn nếu muốn phá hủy bùa yêu hoàn toàn thì cần cúng “thầy” một con lợn, cộng thêm con gà hoặc con vịt. Khi đã phá hẳn bùa thì họ có thể ly hôn và đi thêm bước nữa”.
Theo sự lý giải của một “kỳ nhân 6 ngón” Vì Xuân Thu, người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở đây thì việc “mằn yêu” cũng giống như cách mà anh “mằn” chữa bệnh. Chỉ cần một chén rượu hoặc một chén nước đưa lên ngang miệng hà hơi, truyền một xung lực năng lượng huyền bí vào chén nước mà thổi vào người bệnh thì họ sẽ rơi vào trạng thái mất lý trí và không cảm thấy đau.
Ám ảnh ma lực của “mằn yêu”
Đã có rất nhiều những câu chuyện bi hài lẫn ai oán liên quan đến “mằn yêu” của người Thái ở khu vực Mai Châu. Đó là chuyện tình yêu của anh Hà Văn T. và chị Tòng Thị V. tại thành phố Hòa Bình đang yêu nhau tha thiết, nhưng rất bất ngờ, cô gái đó bỗng bỏ người yêu để đi lấy một người mà cô không yêu.
Đó là anh K. học cùng thời phổ thông vẫn thầm thương trộm nhớ cô gái đó nhưng không được đáp lại tình cảm. Hay tin, anh chàng này đã tìm đến nhờ một “thầy” cao tay về “mằn yêu” ở xã Nà Mèo. Những người dân sống cạnh đó bỗng nhiên thấy V. thường xuyên tìm đến nhà K., khi thấy gia đình có việc gì thì cô gái liền đến giúp, cô V. tự vào bếp nấu cơm, rửa bát và phụ giúp mọi công việc khác của gia đình.
Vài tuần sau, K. đòi bố mẹ đem sính lễ đến hỏi cưới V. về làm vợ. Anh T. biết chuyện anh K. đã thả bùa yêu đối với V. anh ra sức can ngăn nhưng không được. Mấy ngày sau, cô gái biết chuyện người yêu cũ buồn phiền đã uống thuốc độc tự tử, cô gái mới về vặn hỏi K., người chồng tưởng rằng hai người đã thành vợ chồng thì cũng không cần giấu nữa nên đã nói hết mọi chuyện với vợ. Hôm sau, người chồng phát hiện vợ mình đã chết trong tay vẫn cầm một lọ thuốc sâu.
Người dân nơi đây vẫn cho rằng, hai người nhờ bùa yêu nên vợ, thành chồng sẽ không thể nào sống hạnh phúc đến suốt đời. Nếu một trong hai người chết đi, người còn sống mà không tìm được chính người đã yểm bùa thì người này cũng sẽ chết chỉ trong vòng một tuần.
Đó là trường hợp của ông Hà Văn Cao và bà Hà Thị Puồi ở thôn Nà Mèo, xã Nà Mèo. Thời còn trẻ, ông Cao rất thích bà Puồi, khi bà Puồi đi yêu người ở xã khác nhưng ông Cao vẫn theo đuổi. Được tin bà Puồi sắp làm đám cưới với người yêu. Ông Cao liền tìm nhờ ông thầy “mằn” cao tay nhất vùng để lấy được người mình thương. Theo những người dân nơi đây cho biết, họ rất bất ngờ khi biết bà Puồi bỏ người yêu và lấy ông Cao.
Cuộc sống của họ cứ êm đềm trôi, rồi sinh con đẻ cái, sống bình lặng bên xó núi hiu hắt. Bà vợ chết được một tuần thì thấy người chồng cũng chết. Những người dân nơi đây cho rằng, do người chồng thả bùa yêu nên họ mới đến được với nhau. Khi bà vợ chết, người chồng không còn cách nào để phá bùa vì ông thầy “mằn” cũng đã chết nên chết theo.
Trải qua hàng ngàn đời, người dân xã Nà Mèo đã đúc kết được những bài học quý giá, không những các cặp nên vợ thành chồng nhờ bùa yêu sống không hạnh phúc mà chính thầy “mằn” cũng có kết cục không tốt. Họ cho rằng đó là quy luật nhân quả: “Đời cha ăn mặn thì đời con khát nước”, đời cha làm nhiều tội lỗi thì đến đời con sẽ phải gánh chịu sự trừng phạt. Việc làm bùa yêu còn ít ảnh hưởng, chứ việc làm bùa ác thì tích tụ nghiệp chướng cho con cháu càng lớn.
Con cái họ sinh ra sẽ chịu báo ứng. Có trường hợp, ông thầy “mằn” đã se quá nhiều mối duyên dở dang, hai người con trai đi lấy vợ đều không ai có khả năng sinh con. Những câu chuyện đó như là bài học để những người dân răn đe nhau không làm công việc se duyên tội lỗi đó nữa.

Ông Vì Xuân Thu, một người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở vùng Nà Mèo cho hay: Bây giờ cuộc sống văn minh, nhận thức của người dân đã được nâng cao. Trai gái trong làng đã không còn cần đến bùa yêu nữa. Họ có thời gian yêu và tìm hiểu rất kỹ trước khi tính đến chuyện hôn nhân. Phải có tình yêu, sự cảm thông, chia sẻ, biết yêu thương lẫn nhau thì khi thành vợ thành chồng mới hạnh phúc.

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Báo mộng bệnh tật qua những giấc mơ

Cuộc đời mỗi người không thể không có những giấc mơ. Có những giấc mơ đem đến cho người mơ niềm tin và sự hy vọng về tình yêu trong cuộc sống , có những giấc mơ khiến người mơ lo sợ và thất vọng; có những giấc mơ trở về quá khứ , nhưng cũng có những giấc mơ là điều báo trước một sự việc hay bệnh tật nào đó tiềm ẩn trong cơ thể chúng ta.
Các thầy thuốc từ cổ chí kim đều công nhận rằng, trong một số trường hợp, giấc mơ phản ánh khá rõ nét tình trạng sức khỏe của con người. Nó là dấu hiệu báo trước những căn bệnh tiềm ẩn, cũng như những biến động về mặt tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh tật.
Điềm báo qua giấc mơ
Từ thời xa xưa, các nhà nghiên cứu y học Hy Lạp cổ đại như Hippocrates và Galen đã tin rằng giấc mơ ẩn chứa những thông tin có thể giúp cho thầy thuốc chẩn đoán bệnh tật. Quan điểm này sau đó tiếp tục được nhiều chuyên gia nổi tiếng, trong đó có nhà tâm lý học Sigmund Freud ủng hộ. Theo Freud, bệnh tật có thể gây ra một số loại giấc mơ với chủ đề nào đó. Và việc phân tích các giấc mơ giúp bác sĩ không chỉ trong chẩn đoán mà còn cả trong việc chữa bệnh. Theo sự thay đổi các giấc mơ, có thể phán đoán về sự phát triển của bệnh, về việc thuốc do bác sĩ chỉ định có cải thiện tình hình hay không.
Bác sĩ tâm thần người Nga P.B.Ganuskin dựa trên kinh nghiệm chữa bệnh của mình và báo cáo của nhiều đồng nghiệp đã giải thích những giấc mơ báo trước bệnh tật trên cơ sở sinh lý học thần kinh. Trong thời gian ngủ, nhất là giai đoạn ngủ không sâu, các tín hiệu nhẹ về bệnh lý như tăng giảm nhiệt độ, mạch, huyết áp, lượng adrenaline, tiết axít dạ dày... đi vào não dễ dàng do không bị các luồng thông tin khác cạnh tranh. Các tín hiệu bệnh lý đó được chuyển thành hình ảnh của giấc mơ.
Nếu mới bị nhiễm bệnh, sức đề kháng của cơ thể sẽ hàn gắn những tổn thương ban đầu của lớp mô bộ não nên giấc mơ sẽ nhanh qua đi nhưng khi bệnh phát triển thì lớp mô của não bị tổn thương nghiêm trọng hơn nên sự báo trước của bệnh tật qua giấc mơ sẽ nhiều hơn và được lặp đi lặp lại nhiều lần.
Những dấu hiệu bệnh tật được báo trước qua giấc mơ là:
Mơ bị ai đó hoặc có vật gì đó đánh vào đầu hoặc bị đổ thức ăn lỏng lên năm giác quan: thì có thể bạn bị u não hoặc bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh.

Mơ thấy những tiếng vang lạ thường: Trung khu thích giác có thể có một vài biến chứng nào đó hoặc các mạch máu phụ cận bị xơ vữa.
Mơ thấy khí quản bị vướng, hô hấp của bạn không thuận lợi, bạn bị ngạt thở: thì có thể cơ thể bạn đang tiềm ẩn bệnh liên quan đến đường hô hấp.
Mơ thấy bị truy đuổi, sợ hãi nhưng không thể chạy được hoặc không kêu thành tiếng, khi tỉnh dậy thấy sợ hãi và toát mồ hôi, tim đập nhanh: thì có thể động mạnh vành của tim cung cấp máu không đủ, dẫn đến thiểu năng động mạch vành.
Mơ thấy đi bộ không vững, cơ thể vẹo vọ, nặng nề và có cảm giác ngạt thở, tự nhiên tỉnh giấc: có thể là biểu hiện của triệu chứng đau thắt cơ tim, đau thắt ngực.
Mơ thấy rơi từ trên cao xuống nhưng đang rơi thì đã tỉnh giấc: thì có thể là triệu chứng liên quan đến bệnh tim.

Mơ thấy cảnh nước lớn, đầm lầy hoặc bị chết đuối… là biểu hiện của bệnh liên quan đến hệ thống gan, thận, mật.

Mơ thấy đánh nhau, khi tỉnh dậy những vị trí bị đánh thấy đau: là báo hiệu bộ phận tương ứng có nguy cơ mắc bệnh.
Mơ thấy chính mình hoặc ai đó trong số những người quen của mình  ăn cá sống hoặc cá ươn: có thể bị viêm dạ dày cấp tính.
Mơ thấy lửa cháy to, bị bỏng… báo hiệu bạn bị cao huyết áp.

Mơ thấy cưỡi trên mây mù, thấy những bộ mặt hung ác, dữ tợn… bạn đang có dấu hiệu bị bệnh ở hệ thống tuần hoàn và hệ thống tiêu hoá.
Giấc mơ cưỡi trên mây mù
Theo Kaxaskin, một chuyên gia nghiên cứu về giấc ngủ người Nga, những “mộng báo” xảy ra chừng 2 - 3 tháng trước khi bệnh cao huyết áp xuất hiện, một tháng trước khi có bệnh viêm dạ dày, hai tháng trước những triệu chứng rõ rệt đầu tiên của bệnh lao. Một số bệnh ở não thậm chí còn bộc lộ qua các giấc mơ một năm trước khi phát.
Kaxaskin nhấn mạnh: Không có chút gì là huyền bí trong việc giấc mơ có thể phản ánh sự bắt đầu của bệnh tật khá lâu trước khi bác sĩ chữa bệnh thừa nhận có bệnh đó. Điều này được chứng thực bởi một thực tế là thời hạn tiên đoán của “giấc mộng chẩn bệnh” hầu như trùng hoàn toàn với thời gian của giai đoạn ủ bệnh.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng, cho đến nay, người ta chưa tìm ra bất cứ mối liên hệ đáng tin cậy nào giữa một loại giấc mơ với một căn bệnh nhất định. Nói một cách đơn giản hơn thì không phải cứ nằm mơ thấy bị siết cổ thì có nghĩa là sẽ bị bệnh tim, hay mơ thấy bị trói là bị khớp. Vì vậy, cũng không nên quá lo lắng chỉ vì một giấc mơ. Chỉ trong trường hợp một giấc mơ diễn đi diễn lại nhiều lần kèm theo các dấu hiệu khác thì mới cần đi khám.